Việc ban hành và trình bày văn bản là yếu tố cốt lõi trong hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức. Đối với các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, đặc biệt là Đảng Cộng sản Việt Nam, việc tuân thủ Thể thức văn bản của Đảng năm 2025 đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đảm bảo tính pháp lý, sự thống nhất và hiệu quả trong công tác lãnh đạo. Nắm vững những quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày giúp người soạn thảo và người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu đúng nội dung, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của toàn hệ thống.
Nền tảng pháp lý và yêu cầu chung
Thể thức văn bản của Đảng hiện hành, được áp dụng và tiếp tục là căn cứ cho các văn bản ban hành trong năm 2025, chủ yếu dựa trên Quy định số 66-QĐ/TW ngày 06/02/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng, cùng với Hướng dẫn số 36-HD/VPTW ngày 03/4/2018 của Văn phòng Trung ương Đảng hướng dẫn cụ thể về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản. Những quy định này điều chỉnh thể thức văn bản của Đảng ở tất cả các cấp, từ Trung ương đến cơ sở, áp dụng cho hầu hết các loại văn bản chính thức được ban hành. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo văn bản có giá trị pháp lý và giá trị thực tiễn cao nhất.
Đối tượng áp dụng của các quy định này bao gồm các cấp ủy, cơ quan, tổ chức đảng từ Trung ương đến cấp cơ sở. Tuy nhiên, văn bản chuyên ngành, văn bản khi in thành sách, ấn phẩm khác, hệ thống trường chính trị và các tổ chức hoạt động theo Luật Doanh nghiệp không thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của Hướng dẫn 36. Việc thống nhất về thể thức văn bản của Đảng là yêu cầu hàng đầu, bởi nó thể hiện sự chuyên nghiệp, tính nghiêm túc và giá trị chính thức của tài liệu.
Trách nhiệm đảm bảo tính đúng đắn về thể thức văn bản của Đảng được phân định rõ ràng. Người ký văn bản chịu trách nhiệm chính về thể thức và kỹ thuật trình bày. Chánh văn phòng hoặc người phụ trách công tác văn phòng có vai trò thẩm định. Cán bộ soạn thảo phải thực hiện đúng hướng dẫn, còn cán bộ văn thư có nhiệm vụ kiểm tra trước khi trình ký và phát hành. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận là then chốt để mọi văn bản được ban hành đều chuẩn xác theo quy định.
Các thành phần thể thức bắt buộc trong văn bản của Đảng
Mọi văn bản chính thức của Đảng đều phải đảm bảo đầy đủ các thành phần thể thức bắt buộc để xác định nguồn gốc, nội dung và giá trị pháp lý. Hiểu rõ cách trình bày từng thành phần là điều kiện tiên quyết để soạn thảo văn bản chuẩn mực theo thể thức văn bản của Đảng năm 2025. Các thành phần này bao gồm tiêu đề xác định văn bản của Đảng, tên cơ quan ban hành, số và ký hiệu, địa danh và thời gian ban hành, tên loại và trích yếu, nội dung chính, và thông tin về người có thẩm quyền ký.
Tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam”
Đây là thành phần quan trọng, khẳng định văn bản được ban hành bởi một tổ chức thuộc hệ thống của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về kỹ thuật trình bày, tiêu đề này luôn được đặt ở trang đầu, góc trên bên phải của văn bản. Phía dưới tiêu đề có một đường kẻ ngang liền nét, có độ dài bằng chiều dài của dòng chữ “Đảng Cộng sản Việt Nam”, dùng để phân cách với phần địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Viết Nhật Ký Học Tập Hiệu Quả
- Mơ Thấy Nhổ Răng Là Điềm Báo Gì? Giải Mã Từ A Đến Z
- Nằm Mơ Thấy Lấy Vợ 2: Giải Mã Điềm Báo và Con Số May Mắn
- Mơ Thấy Mũ Cối Đánh Con Gì? Giải Mã Giấc Mơ Cùng Edupace
- Phonics Là Gì: Giải Mã Phương Pháp Phát Âm Chuẩn
Hình ảnh minh họa bố cục các thành phần thể thức cơ bản của văn bản Đảng, giúp hình dung vị trí của tiêu đề Đảng Cộng sản Việt Nam cùng các yếu tố khác.
Tên cơ quan ban hành văn bản
Thành phần này xác định rõ tác giả ban hành văn bản, cần được ghi chính xác và đầy đủ theo Điều lệ Đảng hoặc quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền. Cách ghi tên cơ quan ban hành phụ thuộc vào loại hình và cấp độ của tổ chức Đảng. Chẳng hạn, văn bản của Đại hội Đảng các cấp sẽ ghi tên Đại hội, có thể kèm theo tên đoàn chủ tịch, đoàn thư ký nếu văn bản do các bộ phận này ban hành. Văn bản của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thường ghi chung là Ban Chấp hành Trung ương. Các cấp ủy địa phương như tỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy, đảng ủy cơ sở cũng có cách ghi tên thống nhất, thường bao gồm cả tên cấp ủy cấp trên trực tiếp đối với cấp huyện và cơ sở. Tên cơ quan ban hành được trình bày ở góc trên bên trái, cùng dòng với tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam”, và phía dưới có dấu sao (*) để ngăn cách với số và ký hiệu văn bản. Nếu tên cơ quan dài, có thể chia thành nhiều dòng.
Các cơ quan tham mưu, giúp việc, đảng đoàn, ban cán sự đảng, ban chỉ đạo, tiểu ban, hội đồng trực thuộc cấp ủy, cũng như các đơn vị được thành lập theo quyết định của cơ quan, tổ chức đảng, đều có quy định riêng về cách ghi tên ban hành, thường bao gồm cả tên cơ quan chủ quản cấp trên. Ví dụ, Ban Tổ chức Trung ương sẽ ghi cả “BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG” phía trên tên mình. Đối với văn bản do liên cơ quan ban hành, tên của các cơ quan được ghi đầy đủ, với tên cơ quan chủ trì đặt trước và cách nhau bằng dấu gạch nối (-).
Số và ký hiệu văn bản
Số và ký hiệu là yếu tố định danh duy nhất cho mỗi văn bản được ban hành trong một khoảng thời gian hoặc một nhiệm kỳ. Số văn bản là số thứ tự được đăng ký tại văn thư cơ quan. Đối với văn bản của Đại hội Đảng các cấp, số được ghi liên tục cho tất cả các loại văn bản được ban hành trong suốt thời gian Đại hội diễn ra. Văn bản của các cấp ủy, cơ quan, tổ chức đảng khác được đánh số liên tục theo từng loại văn bản trong một nhiệm kỳ cấp ủy, tính từ ngày bế mạc đại hội khóa trước đến hết ngày bế mạc đại hội khóa kế tiếp.
Ký hiệu văn bản bao gồm chữ viết tắt tên loại văn bản và chữ viết tắt tên cơ quan ban hành. Ví dụ, Nghị quyết được ký hiệu là NQ, Chỉ thị là CT, Báo cáo là BC. Ký hiệu cơ quan ban hành là các chữ cái đầu âm tiết của tên cơ quan đó; ví dụ Ban Tổ chức Trung ương có ký hiệu là BKTTW, Tỉnh ủy là TU, Huyện ủy là HU. Đối với văn bản của liên cơ quan, ký hiệu sẽ bao gồm chữ viết tắt của các cơ quan ban hành, nối với nhau bằng dấu gạch nối (-). Số và ký hiệu văn bản được trình bày cân đối phía dưới tên cơ quan ban hành ở góc trên bên trái. Số văn bản dưới 10 cần có số 0 phía trước, và giữa số với ký hiệu có dấu gạch nối.
Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản
Đây là thành phần xác định thời gian và địa điểm văn bản được chính thức ban hành. Địa danh ban hành văn bản là tên chính thức của đơn vị hành chính nơi cấp ủy, cơ quan, tổ chức đảng đặt trụ sở. Đối với văn bản cấp Trung ương, địa danh là tên tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở (ví dụ: Hà Nội, Đà Nẵng). Văn bản cấp tỉnh cũng ghi tên tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương. Văn bản cấp huyện ghi tên huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Văn bản cấp cơ sở tại xã, phường, thị trấn ghi tên xã, phường, thị trấn.
Trong một số trường hợp đặc biệt, cần ghi thêm cấp hành chính trước địa danh, ví dụ khi địa danh mang tên người (Quận Hai Bà Trưng), chỉ có một âm tiết (Thành phố Huế), hoặc theo số thứ tự (Phường 7), hoặc khi tên riêng của đơn vị hành chính trùng với tên cấp trên (Thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình). Ngày, tháng, năm ban hành văn bản là ngày người có thẩm quyền ký chính thức văn bản. Khi trình bày, ngày dưới 10 và tháng dưới 3 phải thêm số 0 ở phía trước (ví dụ: ngày 03 tháng 02). Giữa địa danh và ngày, tháng, năm có dấu phẩy (,). Toàn bộ thành phần này được trình bày dưới tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam” ở góc trên bên phải.
Hình ảnh minh họa vị trí quy định cho phần địa danh và ngày, tháng, năm ban hành trong bố cục chuẩn của văn bản Đảng.
Tên loại văn bản và trích yếu nội dung văn bản
Tên loại văn bản xác định loại hình của tài liệu (ví dụ: Nghị quyết, Chỉ thị, Báo cáo, Quy định). Mọi văn bản đều phải ghi tên loại, trừ công văn. Trích yếu nội dung là một câu hoặc cụm từ ngắn gọn, tóm tắt nội dung chính yếu của văn bản. Đây là thành phần giúp người đọc nhanh chóng nắm bắt được chủ đề của tài liệu. Tên loại văn bản được trình bày trên một dòng riêng, in hoa, in đậm và căn giữa trang. Trích yếu nội dung được trình bày ngay dưới tên loại văn bản, cũng in đậm và căn giữa. Phía dưới trích yếu nội dung văn bản có một dòng gồm năm dấu gạch nối (-) để ngăn cách với phần nội dung chính.
Riêng đối với công văn, trích yếu nội dung không đặt ở giữa trang mà được trình bày dưới số và ký hiệu văn bản ở góc trên bên trái. Đối với các báo cáo chính trị trình đại hội đảng các cấp, cách ghi tên loại và trích yếu có thể thay đổi tùy thuộc vào việc báo cáo có chủ đề riêng hay không, nhưng vẫn tuân thủ nguyên tắc trình bày căn giữa trang và có dấu gạch nối ngăn cách.
Sơ đồ bố cục văn bản Đảng hiển thị rõ vị trí trung tâm của tên loại văn bản và phần trích yếu nội dung.
Nội dung văn bản
Nội dung là phần trung tâm, truyền tải thông điệp chính của văn bản. Nó cần đảm bảo tính chính xác, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Ngôn ngữ sử dụng phải phổ thông, rõ ràng, dễ hiểu, tránh dùng từ ngữ địa phương hoặc quá chuyên ngành nếu không giải thích. Khi viện dẫn các văn bản khác, lần đầu tiên cần ghi đầy đủ thông tin (tên loại, số, ký hiệu, ngày ban hành, cơ quan ban hành, trích yếu); các lần viện dẫn sau có thể chỉ ghi tên loại và số, ký hiệu. Các thuật ngữ chuyên môn (nếu có) cần được giải thích rõ ràng ngay trong văn bản.
Về kỹ thuật trình bày, nội dung bản văn thường được căn đều cả hai lề. Chữ đầu dòng sau khi xuống dòng cần lùi vào khoảng 10 mm. Khoảng cách giữa các đoạn văn bản được quy định tối thiểu là 6pt, và khoảng cách giữa các dòng tối thiểu là 18pt (Exactly). Kết thúc nội dung văn bản có dấu chấm (.). Những văn bản có phần căn cứ ban hành, mỗi căn cứ được trình bày trên một dòng riêng, kết thúc bằng dấu chấm phẩy (;), riêng căn cứ cuối cùng kết thúc bằng dấu phẩy (,). Văn bản có bố cục phức tạp theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm cần tuân thủ quy tắc đánh số (La Mã, Ả-rập, chữ cái) và trình bày (căn giữa, thụt lề) theo quy định chi tiết trong Hướng dẫn. Việc ngắt đoạn hợp lý, mỗi đoạn không quá dài (tối đa khoảng 200 từ), giúp người đọc dễ dàng tiếp thu thông tin và giảm mỏi mắt.
Vị trí và định dạng chung của phần nội dung trong sơ đồ bố cục văn bản Đảng theo quy định.
Quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền
Chữ ký của người có thẩm quyền là yếu tố xác nhận giá trị pháp lý của văn bản, thể hiện trách nhiệm của người ký đối với nội dung và thể thức. Quy định về quyền hạn ký văn bản được ban hành bằng văn bản riêng. Các ký hiệu quyền hạn thường gặp là T/M (Thay mặt) đối với văn bản của các tập thể lãnh đạo (đại hội, cấp ủy, ủy ban kiểm tra, đảng đoàn, ban cán sự đảng, hội đồng) và K/T (Ký thay) khi cấp phó ký thay cấp trưởng. Ký hiệu T/L (Thừa lệnh) được sử dụng khi ký theo sự ủy quyền của cấp ủy hoặc thủ trưởng cơ quan. Chức vụ ghi dưới ký hiệu quyền hạn phải là chức vụ chính thức của người ký. Họ tên ghi đầy đủ, không kèm học hàm, học vị, quân hàm. Chữ ký phải là chữ ký gốc, không ký nháy, ký tắt trên bản chính thức.
Đối với văn bản của Đại hội Đảng, việc phân công người ký được thực hiện theo quy chế Đại hội. Khi thay mặt tập thể ký văn bản (T/M), chỉ ghi chức vụ đối với bí thư, phó bí thư, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, chủ tịch, phó chủ tịch, không ghi chức vụ đối với ủy viên. Phần này được trình bày ở cuối văn bản, góc dưới bên phải, bao gồm ký hiệu quyền hạn, chức vụ, khoảng trống cho chữ ký và họ tên đầy đủ của người ký.
Minh họa vị trí và các thành phần thông tin của người ký trong cấu trúc thể thức văn bản Đảng.
Việc tuân thủ chặt chẽ các quy định về thể thức văn bản của Đảng không chỉ là yêu cầu về mặt hành chính mà còn thể hiện sự nghiêm túc, kỷ luật và tính chuyên nghiệp trong công tác lãnh đạo của Đảng. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị, đảm bảo các chủ trương, nghị quyết được truyền tải và thực hiện một cách chính xác và thống nhất. Việc nắm vững và áp dụng đúng thể thức văn bản của Đảng năm 2025 là kỹ năng cần thiết cho mọi cán bộ, đảng viên tham gia vào quy trình soạn thảo và xử lý văn bản.
FAQs về Thể thức Văn bản của Đảng
Quy định pháp lý nào là cơ sở cho thể thức văn bản của Đảng hiện nay?
Nền tảng pháp lý chính là Quy định số 66-QĐ/TW ngày 06/02/2017 và Hướng dẫn số 36-HD/VPTW ngày 03/4/2018.
Ai là người chịu trách nhiệm chính về thể thức văn bản trước khi ban hành?
Người ký văn bản là người chịu trách nhiệm chính, bên cạnh trách nhiệm thẩm định của Chánh văn phòng và trách nhiệm thực hiện, kiểm tra của cán bộ soạn thảo, văn thư.
Làm thế nào để xác định địa danh ban hành văn bản của Đảng?
Địa danh là tên chính thức của đơn vị hành chính nơi cơ quan, tổ chức Đảng đặt trụ sở. Cấp Trung ương ghi tên tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, cấp tỉnh ghi tên tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, cấp huyện ghi tên huyện/quận…, cấp cơ sở ghi tên xã/phường/thị trấn. Có trường hợp cần ghi thêm cấp hành chính trước địa danh.
Khi nào sử dụng ký hiệu T/M, K/T, T/L trong chữ ký?
T/M (Thay mặt) dùng khi tập thể lãnh đạo ký (đại hội, cấp ủy). K/T (Ký thay) dùng khi cấp phó ký thay cấp trưởng. T/L (Thừa lệnh) dùng khi ký theo sự ủy quyền.
Trích yếu nội dung văn bản của Đảng có vị trí ở đâu?
Đối với hầu hết các loại văn bản, trích yếu nội dung được đặt dưới tên loại văn bản, căn giữa trang. Riêng với công văn, trích yếu đặt dưới số và ký hiệu văn bản ở góc trên bên trái.
Edupace hy vọng bài viết này cung cấp những thông tin hữu ích về Thể thức văn bản của Đảng năm 2025 dựa trên các quy định hiện hành.





