Chương trình giáo dục phổ thông mới đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc gia. Để nắm bắt được tinh thần và mục tiêu của chương trình này, việc hiểu rõ các yêu cầu cần đạt trong chương trình giáo dục phổ thông mới là điều cốt yếu. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích những kết quả mong đợi ở học sinh theo chuẩn mới nhất.

Yêu cầu cần đạt là gì trong chương trình mới?

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục, khái niệm yêu cầu cần đạt đóng vai trò trung tâm. Đây là kết quả mà học sinh được kỳ vọng sẽ đạt được về mặt phẩm chất và năng lực sau khi hoàn thành mỗi cấp học, mỗi lớp học, cũng như đối với từng môn học và hoạt động giáo dục cụ thể. Điều quan trọng là các yêu cầu này mang tính kế thừa và nâng cao dần qua các cấp, tức là mỗi cấp học sau sẽ bao gồm những yêu cầu của các cấp học trước đó, đồng thời bổ sung thêm những đòi hỏi cao hơn, phức tạp hơn phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của học sinh. Những chuẩn mực này cần được tích hợp một cách toàn diện vào quá trình giảng dạy và học tập, không chỉ giới hạn trong kiến thức mà còn chú trọng rèn luyện kỹ năng và hình thành nhân cách cho người học.

Tầm quan trọng của việc xác định yêu cầu cần đạt

Việc ban hành quy định về các yêu cầu cần đạt trong chương trình giáo dục phổ thông mới, được cụ thể hóa trong Thông tư 32/2018/BGDĐT, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Mục tiêu chính là xây dựng một khung chuẩn thống nhất và hiện đại cho nội dung giáo dục ở tất cả các cấp, từ bậc tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông. Khung chuẩn này giúp tinh gọn kiến thức, đảm bảo chất lượng giáo dục được nâng cao, và đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cá nhân của từng học sinh. Đồng thời, nó cũng góp phần tạo ra cơ hội học tập bình đẳng cho mọi đối tượng học sinh trên khắp cả nước. Theo Thông tư 32, các yêu cầu cần đạt được xác định bao gồm 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi (bao gồm 3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù) mà học sinh cần hình thành và phát triển trong suốt quá trình học tập phổ thông.

Tổng quan yêu cầu cần đạt chương trình giáo dục phổ thông mớiTổng quan yêu cầu cần đạt chương trình giáo dục phổ thông mới

Các phẩm chất chủ yếu học sinh cần đạt

Hệ thống phẩm chất chủ yếu mà Chương trình giáo dục phổ thông mới hướng tới bao gồm yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thựctrách nhiệm. Những phẩm chất này được rèn luyện và phát triển theo mức độ tăng dần qua từng cấp học, phù hợp với sự trưởng thành của học sinh.

Phẩm chất Yêu nước ở các cấp học

Ở cấp tiểu học, học sinh được giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường xung quanh. Các em cũng bắt đầu làm quen và tôn trọng các biểu trưng của đất nước, bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đối với người lao động, người có công với quê hương, và tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa phù hợp. Lên cấp trung học cơ sở, sự yêu nước được thể hiện qua việc tích cực tham gia bảo vệ thiên nhiên, chủ động tìm hiểu và phát huy truyền thống gia đình, dòng họ, quê hương. Học sinh THCS cũng có ý thức bảo vệ các di sản văn hóa và tham gia các hoạt động liên quan. Tại cấp trung học phổ thông, yêu cầu về yêu nước được nâng cao với mức độ chủ động và tích cực vận động người khác cùng tham gia bảo vệ thiên nhiên, tự giác thực hiện và tuyên truyền pháp luật để xây dựng đất nước, đấu tranh với các hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia bằng hành động phù hợp, và sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Phẩm chất Nhân ái theo từng cấp

Sự nhân ái bắt đầu được hình thành ở cấp tiểu học qua việc học sinh biết yêu quý mọi người, tôn trọng sự khác biệt của bạn bè về tính cách, hoàn cảnh, không phân biệt đối xử và sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của bạn. Đến cấp trung học cơ sở, yêu cầu về nhân ái sâu sắc hơn với sự yêu thương, quan tâm chăm sóc người thân, yêu quý thầy cô, bạn bè, tôn trọng người lớn tuổi, giúp đỡ người yếu thế và chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn. Các em cũng cần trân trọng danh dự, sức khỏe người khác, không cổ súy bạo lực và sẵn sàng bênh vực người thiệt thòi, đồng thời tích cực tham gia các hoạt động từ thiện. Ở cấp trung học phổ thông, nhân ái được thể hiện qua việc quan tâm đến mối quan hệ hài hòa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, đấu tranh với hành vi xâm phạm quyền lợi cá nhân/tổ chức. Học sinh cấp THPT cũng cần thấu cảm, độ lượng với lỗi lầm của người khác và chủ động vận động cộng đồng tham gia các hoạt động từ thiện và phục vụ xã hội.

Phẩm chất Chăm chỉ qua các giai đoạn giáo dục

Chăm chỉ ở cấp tiểu học tập trung vào việc đi học đầy đủ, hoàn thành nhiệm vụ học tập, ham học hỏi, thích đọc sách và bước đầu vận dụng kiến thức vào đời sống. Học sinh tiểu học cũng cần chăm làm bằng cách tham gia các công việc nhà, việc trường lớp, cộng đồng vừa sức. Ở cấp trung học cơ sở, sự chăm chỉ trong học tập được thể hiện qua nỗ lực vươn lên, tìm tòi tài liệu mở rộng hiểu biết, vận dụng kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau. Trong lao động, học sinh THCS tham gia công việc gia đình phù hợp, cố gắng đạt kết quả tốt ở trường lớp, cộng đồng và bắt đầu có ý thức học tập các môn hướng nghiệp. Tại cấp trung học phổ thông, chăm chỉ thể hiện qua việc học sinh tự đánh giá điểm mạnh/yếu để xây dựng kế hoạch học tập, tích cực tìm tòi, sáng tạo và có ý chí vượt khó trong học tập. Đối với lao động, học sinh THPT tích cực tham gia và vận động người khác cùng tham gia công việc công ích, rèn luyện để chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai.

Phẩm chất Trung thực trong học đường và cuộc sống

Trung thực được rèn giũa từ cấp tiểu học với sự thật thà, ngay thẳng trong học tập, lao động, sinh hoạt. Học sinh cần mạnh dạn nói lên ý kiến, giữ lời hứa, nhận lỗi và bảo vệ điều đúng đắn, không tự tiện lấy đồ của người khác và không đồng tình với hành vi thiếu trung thực. Lên cấp trung học cơ sở, trung thực đòi hỏi sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, nghiêm túc nhìn nhận khuyết điểm, chịu trách nhiệm về hành vi, tôn trọng lẽ phải, khách quan công bằng, không xâm phạm của công và đấu tranh với hành vi thiếu trung thực trong học tập và cuộc sống. Ở cấp trung học phổ thông, yêu cầu về trung thực đạt mức độ cao hơn, học sinh cần nhận thức và hành động theo lẽ phải, sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lẽ phải, người tốt, điều tốt, và tự giác tham gia, vận động người khác phát hiện, đấu tranh với các hành vi thiếu trung thực, vi phạm đạo đức và pháp luật.

Trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng

Trách nhiệm bắt đầu từ bản thân ở cấp tiểu học với ý thức giữ gìn vệ sinh, rèn luyện sức khỏe, sinh hoạt nền nếp. Đối với gia đình, học sinh tiểu học cần bảo quản đồ dùng, không bỏ thừa thức ăn, tiết kiệm điện nước, tiền bạc. Với nhà trường và xã hội, các em cần thực hiện nội quy, giữ vệ sinh chung, bảo vệ của công, không gây mất trật tự, nhắc nhở bạn bè và người thân tuân thủ quy định chung, có trách nhiệm với công việc được giao và tích cực tham gia hoạt động tập thể. Ở cấp trung học cơ sở, trách nhiệm với bản thân bao gồm thói quen giữ gìn sức khỏe, bảo quản đồ dùng, tiết kiệm thời gian, sử dụng thời gian hợp lý, xây dựng kế hoạch học tập/sinh hoạt, không đổ lỗi và tìm cách khắc phục hậu quả. Đối với gia đình, học sinh THCS cần quan tâm công việc nhà, tiết kiệm chi tiêu cá nhân và gia đình. Với nhà trường và xã hội, các em quan tâm công việc cộng đồng, thực hiện nội quy công cộng, chấp hành luật giao thông, ứng xử văn minh nơi công cộng và sử dụng mạng xã hội đúng quy định. Tại cấp trung học phổ thông, trách nhiệm với bản thân được nâng cao với ý thức tu dưỡng đạo đức, sử dụng tiền hợp lý, sẵn sàng chịu trách nhiệm về lời nói và hành động. Đối với gia đình, học sinh THPT cần làm tròn bổn phận, quan tâm bàn bạc xây dựng kế hoạch chi tiêu. Với nhà trường và xã hội, các em tích cực tham gia, vận động người khác tham gia hoạt động công ích, tuyên truyền pháp luật, đánh giá hành vi chấp hành pháp luật và đấu tranh phê bình hành vi vi phạm. Trách nhiệm với môi trường sống cũng được chú trọng, từ ý thức chăm sóc cây xanh, giữ vệ sinh, không xả rác ở tiểu học, đến sống hòa hợp, tìm hiểu, tuyên truyền bảo vệ thiên nhiên, ứng phó biến đổi khí hậu ở THCS, và cuối cùng là hiểu rõ ý nghĩa tiết kiệm tài nguyên, đấu tranh ngăn chặn lãng phí và chủ động tham gia, vận động bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển bền vững ở THPT.

Phát triển các năng lực chung cốt lõi

Bên cạnh các phẩm chất chủ yếu, chương trình giáo dục phổ thông mới đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển các năng lực chung cho học sinh. Ba năng lực chung cốt lõi bao gồm tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Các năng lực này được hình thành và phát triển xuyên suốt quá trình học tập và thông qua mọi môn học, hoạt động giáo dục.

Năng lực Tự chủ và Tự học qua các cấp

Năng lực tự chủ và tự học ở cấp tiểu học thể hiện qua khả năng tự làm các việc cá nhân, nhận thức quyền và mong muốn chính đáng của bản thân, biết nhận biết và bày tỏ cảm xúc, hòa nhã với mọi người, thực hiện đúng kế hoạch học tập đơn giản, tìm cách giải quyết vấn đề khác nhau, bộc lộ sở thích ban đầu và biết tên một số nghề phổ biến, có ý thức tổng kết bài học và sửa sai theo hướng dẫn. Đến cấp trung học cơ sở, học sinh biết chủ động thực hiện công việc bản thân, hiểu biết về quyền và nhu cầu cá nhân chính đáng, làm chủ tình cảm để có hành vi phù hợp, kiên trì thực hiện kế hoạch học tập, vận dụng kiến thức đã học vào tình huống mới, nhận thức sở thích/khả năng và lựa chọn hướng phát triển sau THCS, tự đặt mục tiêu học tập, lập kế hoạch, tìm kiếm tài liệu, ghi chú thông tin, nhận ra và điều chỉnh sai sót, chủ động tìm kiếm hỗ trợ và rèn luyện bản thân. Tại cấp trung học phổ thông, năng lực tự chủ và tự học đạt mức cao hơn với việc luôn chủ động, tích cực thực hiện công việc, biết giúp đỡ người khác có lối sống tự lực, khẳng định và bảo vệ quyền/nhu cầu cá nhân phù hợp pháp luật, đánh giá ưu nhược điểm bản thân, tự tin, lạc quan, tự điều chỉnh cảm xúc/hành vi, sẵn sàng vượt thử thách, tránh tệ nạn xã hội. Học sinh THPT điều chỉnh hiểu biết, kỹ năng cho môi trường mới, thay đổi tư duy/thái độ để đáp ứng yêu cầu mới, xác định nhiệm vụ học tập chi tiết, điều chỉnh kế hoạch học tập, hình thành cách học riêng, tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn tài liệu phù hợp, ghi chép thông tin khoa học, tự nhận ra và điều chỉnh sai sót, suy ngẫm rút kinh nghiệm và tu dưỡng theo mục tiêu cá nhân.

Năng lực Giao tiếp và Hợp tác

Năng lực giao tiếp và hợp tác ở cấp tiểu học thể hiện qua việc nhận ra ý nghĩa giao tiếp, tiếp nhận văn bản đơn giản, sử dụng ngôn ngữ kết hợp hình ảnh/cử chỉ để trình bày, tập trung chú ý khi giao tiếp, nhận ra thái độ đối tượng, biết cách kết bạn, nhận ra mâu thuẫn nhỏ và biết nhường nhịn/thuyết phục bạn, có thói quen trao đổi, giúp đỡ trong học tập và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ theo hướng dẫn. Đến cấp trung học cơ sở, học sinh biết đặt mục đích giao tiếp, hiểu sự phù hợp của nội dung/phương thức giao tiếp, tiếp nhận văn bản phức tạp hơn, sử dụng ngôn ngữ kết hợp biểu đồ/số liệu/kí hiệu, biết lắng nghe, phản hồi tích cực, nhận biết ngữ cảnh/đặc điểm đối tượng, biết thiết lập, duy trì, phát triển quan hệ xã hội, nhận biết mâu thuẫn, có thiện chí dàn xếp, chủ động đề xuất mục đích hợp tác, xác định công việc phù hợp hợp tác nhóm, hiểu rõ nhiệm vụ nhóm và trách nhiệm bản thân, đánh giá nguyện vọng/khả năng thành viên để phân công, chủ động hoàn thành phần việc, góp ý, khiêm tốn học hỏi, báo cáo kết quả nhóm và tự nhận xét ưu nhược điểm bản thân. Tại cấp trung học phổ thông, năng lực giao tiếp và hợp tác được nâng cao với khả năng xác định mục đích giao tiếp phù hợp đối tượng/ngữ cảnh, dự kiến thuận lợi/khó khăn, lựa chọn nội dung, kiểu văn bản, ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp phù hợp, tiếp nhận văn bản khoa học/nghệ thuật phức tạp kết hợp đa phương tiện, sử dụng đa phương tiện để trình bày, thảo luận, lập luận, đánh giá vấn đề, chủ động, tự tin, kiểm soát cảm xúc khi nói trước đám đông. Học sinh THPT nhận biết và thấu cảm suy nghĩ người khác, xác định nguyên nhân mâu thuẫn, biết cách hóa giải, chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết vấn đề cá nhân/nhóm, lựa chọn hình thức làm việc nhóm phù hợp, phân tích công việc nhóm, sẵn sàng nhận việc khó, theo dõi tiến độ, điều hòa hoạt động, tiếp thu góp ý, hỗ trợ thành viên, đánh giá mức độ đạt mục đích của cá nhân, nhóm và nhóm khác, rút kinh nghiệm và góp ý cho người khác. Khả năng hội nhập quốc tế cũng được nâng cao từ hiểu biết ban đầu về các nước, tham gia hoạt động hội nhập theo hướng dẫn ở tiểu học, đến hiểu biết cơ bản về quan hệ Việt Nam với các nước/tổ chức quốc tế, tích cực tham gia hoạt động hội nhập phù hợp bản thân/nhà trường/địa phương ở THCS, và cuối cùng là hiểu biết cơ bản về hội nhập, chủ động, tự tin giao tiếp bạn bè quốc tế, tham gia hoạt động hội nhập phù hợp và tìm đọc tài liệu nước ngoài phục vụ học tập/nghề nghiệp ở THPT.

Năng lực Giải quyết Vấn đề và Sáng tạo

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo ở cấp tiểu học thể hiện qua việc biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới từ tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn, thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra vấn đề đơn giản và đặt câu hỏi, dựa trên hiểu biết để hình thành ý tưởng mới và dự đoán kết quả, nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn, xác định nội dung/cách thức hoạt động để đạt mục tiêu theo hướng dẫn, nhận xét ý nghĩa hoạt động, nêu được thắc mắc về sự vật/hiện tượng, mạnh dạn nêu ý kiến cá nhân và sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót. Đến cấp trung học cơ sở, học sinh biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới, phân tích, tóm tắt thông tin liên quan từ nhiều nguồn, phân tích tình huống học tập, phát hiện và nêu tình huống có vấn đề trong học tập, phát hiện yếu tố mới/tích cực trong ý kiến người khác, hình thành ý tưởng từ nguồn thông tin, đề xuất giải pháp cải tiến/thay thế, so sánh và bình luận về các giải pháp, xác định và tìm hiểu thông tin liên quan vấn đề, đề xuất giải pháp giải quyết vấn đề, lập kế hoạch hoạt động, phân công nhiệm vụ, đánh giá sự phù hợp của kế hoạch/giải pháp, đặt các câu hỏi khác nhau về sự vật/hiện tượng/vấn đề, lắng nghe, tiếp nhận thông tin có chọn lọc, quan tâm chứng cứ khi nhìn nhận, đánh giá vấn đề/tình huống dưới nhiều góc nhìn. Tại cấp trung học phổ thông, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo đạt mức độ cao hơn với khả năng xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ nhiều nguồn khác nhau, phân tích nguồn thông tin độc lập để thấy khuynh hướng và độ tin cậy, phân tích tình huống học tập/cuộc sống, phát hiện và nêu tình huống có vấn đề trong học tập/cuộc sống, nêu được nhiều ý tưởng mới, suy nghĩ không theo lối mòn, tạo ra yếu tố mới từ các ý tưởng khác nhau, hình thành và kết nối các ý tưởng, nghiên cứu để thay đổi giải pháp khi bối cảnh thay đổi, đánh giá rủi ro và có dự phòng, thu thập và làm rõ thông tin liên quan vấn đề, đề xuất và phân tích một số giải pháp, lựa chọn giải pháp phù hợp nhất, lập kế hoạch hoạt động với mục tiêu, nội dung, hình thức, phương tiện phù hợp, tập hợp và điều phối nguồn lực cần thiết, biết điều chỉnh kế hoạch và tiến trình giải quyết vấn đề để đạt hiệu quả cao, đánh giá hiệu quả của giải pháp và hoạt động, đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều, không thành kiến khi xem xét vấn đề, quan tâm lập luận và minh chứng thuyết phục, sẵn sàng xem xét lại vấn đề.

Bồi dưỡng Năng lực Đặc thù theo Chương trình Giáo dục Phổ thông

Bên cạnh các năng lực chung, chương trình giáo dục phổ thông mới còn chú trọng hình thành và phát triển 7 năng lực đặc thù, chủ yếu thông qua các môn học chuyên biệt nhưng cũng được lồng ghép trong các hoạt động giáo dục khác. Những năng lực này phản ánh sự đa dạng của các lĩnh vực kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của học sinh.

Năng lực Ngôn ngữ: Tiếng Việt và Ngoại ngữ

Năng lực ngôn ngữ bao gồm khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ (Tiếng Việt) và một hoặc nhiều ngoại ngữ. Năng lực này được thể hiện rõ nét qua bốn kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, và viết. Yêu cầu về năng lực ngôn ngữ được quy định chi tiết trong chương trình môn Ngữ văn và môn Ngoại ngữ, hai môn học đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển năng lực này. Tuy nhiên, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cũng cần được rèn luyện và vận dụng trong tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác, phù hợp với đặc thù nội dung của từng lĩnh vực, giúp học sinh sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, từ đó nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức và thể hiện bản thân.

Năng lực Tính toán: Nền tảng Toán học và Ứng dụng

Năng lực tính toán là khả năng cần thiết giúp học sinh nhận thức và làm việc với các khái niệm số học, logic và không gian. Năng lực này được thể hiện qua các hoạt động như nhận thức kiến thức toán học, tư duy toán học, và quan trọng nhất là vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Mặc dù năng lực tính toán được hình thành và phát triển ở nhiều môn học khác nhau, biểu hiện tập trung và rõ ràng nhất chính là năng lực toán học, được xây dựng chủ yếu thông qua môn Toán. Chương trình môn Toán ở mỗi lớp và cấp học quy định cụ thể các yêu cầu cần đạt, giúp học sinh phát triển khả năng suy luận, phân tích và ứng dụng toán học trong đời sống và học tập.

Năng lực Khoa học: Khám phá Tự nhiên và Xã hội

Năng lực khoa học cho phép học sinh hiểu biết về thế giới tự nhiên và xã hội thông qua các hoạt động nhận thức khoa học, tìm hiểu tự nhiên, tìm hiểu xã hội, và vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học. Năng lực này được phát triển thông qua một loạt các môn học chủ đạo tùy theo cấp học. Ở cấp tiểu học, các môn Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lí đặt nền móng. Lên cấp trung học cơ sở, các môn Khoa học tự nhiên và Lịch sử và Địa lí tiếp tục phát triển năng lực này. Đến cấp trung học phổ thông, sự chuyên sâu hơn được thể hiện qua các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, và Giáo dục kinh tế và pháp luật. Chương trình của từng môn học này đều góp phần nâng cao mức độ chuyên sâu của năng lực khoa học, giúp học sinh dần hình thành khả năng tìm hiểu, phân tích và giải thích các hiện tượng trong thế giới xung quanh một cách khách quan và có căn cứ.

Năng lực Công nghệ và Tin học trong Kỷ nguyên Số

Trong bối cảnh kỷ nguyên số, năng lực công nghệnăng lực tin học trở nên thiết yếu. Năng lực công nghệ thể hiện qua khả năng nhận thức, giao tiếp, sử dụng, đánh giá và thiết kế kỹ thuật. Môn Công nghệ là chủ đạo trong việc phát triển năng lực này, nhưng các yếu tố công nghệ cũng xuất hiện trong nhiều môn học khác. Tương tự, năng lực tin học bao gồm khả năng sử dụng và quản lý các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), ứng xử phù hợp trong môi trường số, giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của ICT, ứng dụng ICT trong học và tự học, cùng với khả năng hợp tác trong môi trường số. Môn Tin học là môn học cốt lõi, nhưng năng lực tin học cũng được lồng ghép và phát huy trong toàn bộ các môn học và hoạt động giáo dục, giúp học sinh sử dụng công nghệ và thông tin một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm.

Năng lực Thẩm mĩ: Cảm thụ và Sáng tạo Nghệ thuật

Năng lực thẩm mĩ giúp học sinh cảm nhận và thể hiện cái đẹp trong cuộc sống và nghệ thuật. Năng lực này bao gồm khả năng nhận thức các yếu tố thẩm mĩ, phân tích và đánh giá chúng, cũng như tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mĩ. Môn Âm nhạc, Mĩ thuật và Ngữ văn đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển năng lực thẩm mĩ, cung cấp kiến thức nền tảng và cơ hội thực hành cho học sinh. Tuy nhiên, việc cảm thụ và thể hiện cái đẹp không chỉ giới hạn trong các môn học này mà còn được khuyến khích trong nhiều hoạt động giáo dục khác, giúp học sinh phát triển sự nhạy bén về mặt cảm xúc và khả năng sáng tạo cá nhân.

Năng lực Thể chất: Sức khỏe và Vận động

Năng lực thể chất liên quan đến sức khỏe và khả năng vận động của học sinh, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển toàn diện. Năng lực này thể hiện qua các hoạt động chăm sóc sức khỏe, thực hiện các vận động cơ bản, và tham gia các hoạt động thể dục thể thao. Môn Giáo dục thể chất là môn học chủ đạo trong việc hình thành và phát triển năng lực thể chất cho học sinh, cung cấp kiến thức về sức khỏe, rèn luyện kỹ năng vận động và tạo thói quen tập luyện. Ngoài ra, các hoạt động ngoại khóa và sinh hoạt chung cũng góp phần nâng cao năng lực này, đảm bảo học sinh có một cơ thể khỏe mạnh và tinh thần sảng khoái để học tập và phát triển.

Yêu cầu cần đạt cụ thể theo một số môn học

Mỗi môn học trong chương trình giáo dục phổ thông mới đều có những yêu cầu cụ thể về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học sinh cần đạt được. Những yêu cầu này được xây dựng dựa trên khung phẩm chấtnăng lực cốt lõi, nhưng được điều chỉnh để phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực kiến thức.

Đối với môn Ngữ văn

Môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất chủ yếunăng lực chung, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ, theo các mức độ phù hợp với từng cấp học. Ở cấp tiểu học, yêu cầu tập trung vào khả năng đọc đúng, trôi chảy, diễn cảm và hiểu nội dung tường minh của văn bản, bước đầu nhận biết nội dung hàm ẩn, chủ đề và bài học rút ra. Về viết, học sinh cần viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp, viết được câu, đoạn văn ngắn, và ở lớp lớn hơn thì viết được bài văn ngắn hoàn chỉnh như kể, tả, giới thiệu. Lên cấp trung học cơ sở, yêu cầu nâng cao hơn với khả năng vận dụng kiến thức tiếng Việt, trải nghiệm cá nhân và suy luận để hiểu văn bản, đọc theo kiểu loại, hiểu cả nội dung tường minh và hàm ẩn. Học sinh THCS cần nhận biết, phân tích, đánh giá nội dung và hình thức biểu đạt, so sánh văn bản, liên hệ thực tế cuộc sống để có cảm nhận riêng. Về viết, các em cần viết được bài tự sự, miêu tả, biểu cảm, và bước đầu làm quen với nghị luận, thuyết minh, nhật dụng. Ở các lớp cuối cấp, yêu cầu là viết được các bài văn tự sự, nghị luận, thuyết minh hoàn chỉnh theo đúng quy trình và có kết hợp các phương thức biểu đạt. Tại cấp trung học phổ thông, yêu cầu về năng lực ngôn ngữ đòi hỏi khả năng vận dụng kiến thức tiếng Việt và hiểu biết về bối cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, thẩm mĩ để hiểu các văn bản phức tạp hơn. Học sinh THPT cần phân tích, đánh giá sâu sắc nội dung và hình thức biểu đạt, nhận ra những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ và cấu trúc, từ đó hình thành cách nhìn, cách nghĩ riêng về con người và cuộc sống, thấy được giá trị của việc đọc. Về viết, yêu cầu là viết thành thạo kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh về các đề tài đời sống, hướng nghiệp, tuân thủ quy trình, kết hợp phương thức biểu đạt, kiểu lập luận và yếu tố nghệ thuật, đồng thời thể hiện chủ kiến về một vấn đề xã hội.

Ví dụ về yêu cầu cần đạt trong môn Toán và Tiếng Việt ở cấp Tiểu học

Tại cấp tiểu học, các môn học như ToánTiếng Việt đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển học tập của học sinh. Đối với môn Tiếng Việt, các em cần đạt được khả năng đọc trôi chảy, hiểu nội dung cơ bản của các văn bản phù hợp lứa tuổi, phát âm chuẩn và diễn đạt ý tưởng đơn giản bằng lời nói. Kỹ năng viết cũng được chú trọng từ việc viết đúng chính tả, ngữ pháp cơ bản đến việc hình thành các đoạn văn ngắn.

Trong môn Toán, yêu cầu cần đạt ở cấp tiểu học bao gồm việc nhận biết và sử dụng thành thạo các số tự nhiên, thực hiện được các phép tính cơ bản (cộng, trừ, nhân, chia) trong phạm vi phù hợp với từng lớp. Học sinh cũng được làm quen với các khái niệm hình học cơ bản, biết cách đo lường đơn giản và bước đầu phát triển tư duy logic thông qua việc giải các bài tập toán có lời văn, áp dụng kiến thức vào các tình huống quen thuộc trong đời sống hàng ngày.

Những yêu cầu cần đạt này không chỉ trang bị kiến thức nền tảng mà còn góp phần phát triển năng lực chung như tự chủ và tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo thông qua việc rèn luyện tính kiên trì, khả năng tư duy logic và tìm tòi giải pháp cho các bài tập.

Việc thấu hiểu các yêu cầu cần đạt trong chương trình giáo dục phổ thông mới giúp phụ huynh và học sinh định hướng rõ ràng hơn trên hành trình học tập. Đây là kim chỉ nam quan trọng để cùng hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện. Edupace mong rằng những thông tin này hữu ích cho quý vị.

Câu hỏi thường gặp về yêu cầu cần đạt chương trình giáo dục phổ thông mới

Yêu cầu cần đạt trong chương trình giáo dục phổ thông mới được quy định ở văn bản nào?
Các yêu cầu cần đạt này được quy định chi tiết tại Thông tư 32/2018/BGDĐT về ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Chương trình giáo dục phổ thông mới tập trung vào những yếu tố nào ở học sinh?
Chương trình mới tập trung vào việc hình thành và phát triển toàn diện cho học sinh cả về phẩm chất chủ yếunăng lực cốt lõi.

Có bao nhiêu phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi mà học sinh cần đạt theo chương trình mới?
Theo chương trình, học sinh cần đạt 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi, trong đó có 3 năng lực chung và 7 năng lực đặc thù.

Năng lực đặc thù được phát triển chủ yếu qua đâu?
Các năng lực đặc thù được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các môn học chuyên biệt như Ngữ văn, Toán, Khoa học, Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật, Thể chất, nhưng cũng được lồng ghép và củng cố trong các hoạt động giáo dục khác.

Yêu cầu cần đạt có khác nhau giữa các cấp học không?
Có, các yêu cầu cần đạt được thiết kế theo hướng tăng dần về mức độ phức tạp và chuyên sâu qua các cấp học (Tiểu học, Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông), phù hợp với sự phát triển nhận thức và tâm sinh lý của học sinh.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *