Cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công tại Việt Nam là một chủ đề quan trọng, đánh dấu sự chuyển đổi mạnh mẽ trong cách quản lý và vận hành của các đơn vị này. Vào ngày 16 tháng 9 năm 2022, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 56/2022/TT-BTC nhằm cung cấp những hướng dẫn cụ thể, chi tiết về việc triển khai cơ chế tự chủ tài chính dựa trên Nghị định số 60/2021/NĐ-CP.
Thông tư này ra đời nhằm giải quyết những vướng mắc, định hướng rõ ràng hơn cho các đơn vị trong việc quản lý nguồn thu, chi, cũng như phân loại mức độ tự chủ tài chính, tạo điều kiện để các đơn vị phát huy tính chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc hiểu rõ các quy định trong Thông tư 56/2022/TT-BTC là cần thiết cho các đơn vị sự nghiệp công và các cơ quan quản lý.
Phạm vi điều chỉnh chính của Thông tư 56/2022/TT-BTC
Thông tư số 56/2022/TT-BTC của Bộ Tài chính tập trung hướng dẫn một số nội dung cốt lõi liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công. Đây là văn bản cụ thể hóa các quy định chung tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP, tạo hành lang pháp lý chi tiết hơn cho việc thực hiện trên thực tế. Một trong những điểm quan trọng được Thông tư đề cập là việc xử lý tài sản và tài chính khi có sự thay đổi về tổ chức, cụ thể là khi tổ chức lại hoặc giải thể đơn vị sự nghiệp công theo quy định của Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.
Các khía cạnh chi tiết mà Thông tư này hướng dẫn bao gồm việc quản lý dịch vụ sự nghiệp công có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước. Thông tư cũng quy định rõ cách phân loại các mức độ tự chủ tài chính của đơn vị, từ đó xác định quyền tự chủ được giao. Quy định về phân phối kết quả tài chính đạt được trong năm của đơn vị cũng là một nội dung quan trọng, giúp đơn vị có cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn thu. Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, lập dự toán, phân bổ và quyết toán kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cũng nằm trong phạm vi hướng dẫn của Thông tư này. Cuối cùng, Thông tư cũng đề cập đến chế độ báo cáo về tình hình tự chủ tài chính và quy định cụ thể về cách xử lý tài sản, tài chính khi đơn vị được tổ chức lại hoặc giải thể.
Thông tư này không hướng dẫn lại các nội dung đã được quy định chi tiết tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác có liên quan như giá, phí dịch vụ sự nghiệp công, quản lý vốn đầu tư công hay hạch toán kế toán. Đối với việc giao tài sản công cho đơn vị sự nghiệp công sử dụng, Thông tư yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản hướng dẫn thi hành khác, đảm bảo việc quản lý và sử dụng tài sản công được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Đối tượng áp dụng Thông tư 56/2022/TT-BTC
Thông tư 56/2022/TT-BTC áp dụng cho phạm vi rộng các đơn vị sự nghiệp công tại Việt Nam. Theo đó, tất cả các đơn vị sự nghiệp công thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP đều phải tuân thủ các hướng dẫn tại Thông tư này. Điều này bao gồm các đơn vị hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao, thông tin truyền thông, sự nghiệp kinh tế và các lĩnh vực khác.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Tổng Quan Chi Tiết Bài Thi SAT Writing & Language
- Mơ Thấy Đập Chuột: Giải Mã Điềm Báo và Con Số May Mắn
- Ngày 2/3/2023 dương lịch: Xem ngày tốt xấu
- Giải mã giấc mơ thấy anh trai chi tiết
- Xem Tuổi Xông Nhà Cho Tuổi Quý Sửu 1973 Năm 2020
Ngoài ra, Thông tư cũng có những quy định riêng áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp công trực thuộc các bộ, cơ quan đặc thù như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an sẽ không áp dụng các quy định tại Chương VI của Thông tư, liên quan đến việc xử lý tài sản và tài chính khi tổ chức lại hoặc giải thể, do tính chất đặc thù trong quản lý của hai Bộ này.
Bên cạnh các đơn vị sự nghiệp công, Thông tư còn áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính. Điều này bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (gọi chung là các bộ, cơ quan trung ương), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương (Ủy ban nhân dân cấp huyện), cùng với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình triển khai và giám sát việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công.
Dịch vụ sự nghiệp công theo quy định mới
Theo Thông tư 56/2022/TT-BTC, việc xác định và quản lý dịch vụ sự nghiệp công sử dụng nguồn ngân sách nhà nước được quy định rõ ràng để phục vụ cho mục tiêu tự chủ tài chính của các đơn vị. Danh mục các dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP. Đây là căn cứ để các đơn vị và cơ quan quản lý xác định rõ các hoạt động nào được xem xét khi tính toán mức độ tự chủ dựa trên nguồn thu từ ngân sách nhà nước (dưới hình thức đặt hàng, đấu thầu) hoặc nguồn thu từ người sử dụng dịch vụ.
Các bộ, cơ quan trung ương có trách nhiệm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của mình. Sau khi danh mục được ban hành, các bộ, cơ quan trung ương chịu trách nhiệm quyết định việc áp dụng danh mục này trong phạm vi quản lý, đồng thời gửi Bộ Tài chính để tổng hợp và báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính hàng năm của các đơn vị sự nghiệp công trực thuộc.
Đối với cấp địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền ban hành. Trường hợp danh mục hiện hành vẫn phù hợp với các tiêu chí quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên, nếu cần thiết phải sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành danh mục dịch vụ chi tiết phù hợp với điều kiện và khả năng ngân sách của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định. Việc này cũng cần được gửi đến Bộ Tài chính và các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực liên quan để phục vụ công tác giám sát trong quá trình triển khai. Quy định này đảm bảo sự thống nhất trong quản lý nhà nước nhưng vẫn tạo điều kiện cho các địa phương điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù và nhu cầu thực tế của mình.
Phân loại mức tự chủ tài chính theo Thông tư 56/2022/TT-BTC
Thông tư 56/2022/TT-BTC đưa ra hướng dẫn chi tiết về cách phân loại đơn vị sự nghiệp công theo mức độ tự chủ tài chính, dựa trên nguyên tắc đã nêu tại Điều 9 của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP. Việc phân loại này nhằm xác định mức độ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và quyền tự chủ của đơn vị. Theo Thông tư, các đơn vị sự nghiệp công được chia thành bốn nhóm chính dựa trên khả năng tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
Nhóm đầu tiên là đơn vị nhóm 1: đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. Đây là những đơn vị có nguồn thu đủ lớn để bù đắp toàn bộ các khoản chi hoạt động thường xuyên cũng như các khoản chi đầu tư phát triển. Những đơn vị này có mức độ tự chủ cao nhất. Tiếp theo là đơn vị nhóm 2: đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên. Nhóm này có khả năng trang trải các chi phí hoạt động thường xuyên từ các nguồn thu của mình, nhưng các khoản chi đầu tư thường vẫn cần sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước hoặc các nguồn huy động khác.
Nhóm thứ ba là đơn vị nhóm 3: đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên. Đây là nhóm phổ biến, các đơn vị này có một phần nguồn thu để bù đắp chi thường xuyên, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ đáng kể từ ngân sách nhà nước để trang trải phần còn lại của các chi phí hoạt động thường xuyên. Mức độ hỗ trợ cụ thể sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ tự bảo đảm chi thường xuyên của đơn vị. Cuối cùng là đơn vị nhóm 4: đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Nhóm này chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ công ích mà nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp hoặc dịch vụ là rất hạn chế, do đó phần lớn hoặc toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên được Nhà nước bảo đảm thông qua nguồn ngân sách nhà nước. Việc phân loại rõ ràng này là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước xác định mức hỗ trợ ngân sách phù hợp và giao quyền tự chủ tương ứng cho từng đơn vị.
Xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên và nguyên tắc hỗ trợ từ ngân sách
Một trong những nội dung cốt lõi của Thông tư 56/2022/TT-BTC là hướng dẫn cụ thể cách xác định mức độ tự chủ tài chính, đặc biệt là mức tự bảo đảm chi thường xuyên cho đơn vị sự nghiệp công. Công thức được sử dụng là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản thu có tính đến khi xác định mức tự chủ tài chính (ký hiệu là A) và tổng các khoản chi thường xuyên có tính đến khi xác định mức tự chủ tài chính (ký hiệu là B), nhân với 100%. Công thức là: *Mức tự bảo đảm chi thường xuyên (%) = (A / B) 100%**.
Tổng các khoản thu (A) được quy định chi tiết, bao gồm các nguồn thu từ việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục sử dụng ngân sách nhà nước, kể cả nguồn từ ngân sách nhà nước đặt hàng hoặc đấu thầu. Nguồn thu từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ được giao hoặc tuyển chọn cũng được tính vào A (đối với đơn vị khoa học công nghệ). Đặc biệt, phần chênh lệch thu lớn hơn chi từ các hoạt động dịch vụ không sử dụng ngân sách nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ khác với Nhà nước cũng được cộng vào A. Ngoài ra, nguồn thu phí được để lại chi thường xuyên theo quy định, thu từ cho thuê tài sản công (sau khi trừ chi phí hợp lý và thuế), thu từ lãi tiền gửi ngân hàng (sau khi trừ phí dịch vụ và thuế), và các nguồn thu hợp pháp khác cũng được tính vào A.
Tổng các khoản chi (B) là các khoản chi thường xuyên phục vụ hoạt động của đơn vị. Các chi phí này bao gồm chi tiền lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương cho số lượng người làm việc hoặc vị trí việc làm được giao, chi tiền công theo hợp đồng vụ việc. Chi phí cho hoạt động chuyên môn, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng tài sản thường xuyên, và mua sắm đảm bảo hoạt động thường xuyên từ nguồn kinh phí giao tự chủ cũng được tính vào B. Cần lưu ý rằng các khoản chi để thực hiện nhiệm vụ đặt hàng từ ngân sách nhà nước, chi thực hiện chính sách miễn giảm học phí (trong giáo dục) và chi thường xuyên phục vụ dịch vụ thu phí cũng nằm trong B. Tuy nhiên, các khoản chi cho hoạt động dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước, sản xuất kinh doanh, liên doanh liên kết sẽ không được tính vào B khi xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên.
Việc tính toán các khoản thu (A) và chi (B) dựa trên dự toán thu, chi của năm kế hoạch xây dựng phương án tự chủ tài chính. Quá trình này có xem xét đến các yếu tố biến động tiềm ẩn như thay đổi chính sách của Nhà nước, khả năng chi trả của người sử dụng dịch vụ, và các tác động khách quan như thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động kinh tế – xã hội bất thường. Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu báo cáo và dự kiến các yếu tố biến động này.
Nguyên tắc xác định mức ngân sách nhà nước hỗ trợ chi thường xuyên giao tự chủ cho các đơn vị thuộc nhóm 3 (tự bảo đảm một phần chi thường xuyên) và nhóm 4 (do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên) trong năm đầu thời kỳ ổn định cũng được Thông tư quy định. Mức hỗ trợ này được tính toán dựa trên phần kinh phí còn thiếu giữa tổng chi (B) và tổng thu (A), tức là B – A. Tuy nhiên, mức hỗ trợ này không được vượt quá tổng dự toán chi thường xuyên đã được cơ quan quản lý cấp trên giao trong năm đó. Điều này nhằm đảm bảo sự hỗ trợ từ ngân sách là có mục tiêu và trong giới hạn khả năng của Nhà nước.
Hướng dẫn cụ thể xác định mức tự chủ cho từng lĩnh vực
Thông tư 56/2022/TT-BTC cung cấp những hướng dẫn cụ thể hơn về cách xác định mức tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công trong từng lĩnh vực đặc thù. Việc này nhằm phản ánh đúng thực tế hoạt động và cơ cấu thu chi khác biệt giữa các ngành.
Lĩnh vực Giáo dục Đào tạo và Giáo dục Nghề nghiệp
Đối với các đơn vị sự nghiệp công hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và giáo dục nghề nghiệp, việc xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên được thực hiện dựa trên nguyên tắc chung tại Điều 4 của Thông tư, nhưng có bổ sung các khoản thu đặc thù. Các khoản thu (A) để xác định mức tự chủ của các đơn vị này bao gồm nguồn thu học phí theo quy định tại Nghị định số 81/2021/NĐ-CP. Đặc biệt, nguồn ngân sách nhà nước cấp bù cho các cơ sở giáo dục để thực hiện chính sách miễn, giảm học phí theo Nghị định số 81/2021/NĐ-CP cũng được tính vào A. Nguồn cấp bù này được xác định dựa trên số lượng người học thực tế và dự kiến tuyển mới tại thời điểm xây dựng phương án tự chủ. Ngoài ra, các nguồn thu từ việc cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công khác thuộc danh mục sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, bao gồm cả nguồn đặt hàng hoặc đấu thầu từ ngân sách nhà nước, cũng được tính vào tổng thu A. Các khoản chi (B) được xác định theo nguyên tắc chung tại Điều 4.
Lĩnh vực Y tế – Dân số
Trong lĩnh vực y tế – dân số, việc xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên cũng tuân thủ nguyên tắc chung của Thông tư 56/2022/TT-BTC nhưng có những nguồn thu đặc thù. Các khoản thu (A) để xác định mức tự chủ của các cơ sở y tế bao gồm nguồn thu từ dịch vụ khám chữa bệnh. Nguồn thu này đến từ hai kênh chính: khoản chi trả của Quỹ bảo hiểm y tế và khoản chi trả trực tiếp từ người bệnh theo quy định hiện hành. Bên cạnh đó, các nguồn thu từ việc cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực y tế – dân số, bao gồm cả nguồn đặt hàng hoặc đấu thầu từ ngân sách nhà nước, cũng được tính vào tổng thu A. Các khoản chi (B) của đơn vị y tế được xác định theo nguyên tắc chung tại Điều 4.
Lĩnh vực Khoa học và Công nghệ
Đối với các đơn vị sự nghiệp công hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, việc xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên có tính đến tính chất đặc thù của hoạt động nghiên cứu và phát triển. Các khoản thu (A) để xác định mức tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập bao gồm nguồn thu từ việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Những nhiệm vụ này có thể được cơ quan có thẩm quyền tuyển chọn hoặc giao trực tiếp theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ. Ngoài ra, các nguồn thu từ việc cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công khác thuộc danh mục sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, bao gồm cả nguồn đặt hàng hoặc đấu thầu từ ngân sách nhà nước, cũng được tính vào tổng thu A. Các khoản chi (B) của đơn vị khoa học và công nghệ được xác định theo nguyên tắc chung tại Điều 4.
Lĩnh vực Sự nghiệp Kinh tế và khác
Các đơn vị sự nghiệp công hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và các lĩnh vực khác không thuộc ba nhóm trên cũng xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên theo nguyên tắc chung tại Điều 4 của Thông tư 56/2022/TT-BTC. Các khoản thu (A) để xác định mức tự chủ của các đơn vị này bao gồm nguồn thu từ việc cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công thuộc danh mục sử dụng ngân sách nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và các lĩnh vực khác, kể cả nguồn từ ngân sách nhà nước đặt hàng hoặc đấu thầu. Bên cạnh đó, nguồn thu từ các hoạt động tư vấn, quản lý dự án theo quy định của pháp luật cũng được tính vào tổng thu A của đơn vị. Các khoản chi (B) của đơn vị sự nghiệp kinh tế và các lĩnh vực khác được xác định theo nguyên tắc chung tại Điều 4.
Quy trình và thời kỳ giao quyền tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công
Quy định về việc giao quyền tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công được Thông tư 56/2022/TT-BTC hướng dẫn chi tiết tại Điều 9, nhằm đảm bảo quy trình thực hiện minh bạch và có cơ sở pháp lý vững chắc.
Xây dựng và thẩm định phương án tự chủ
Bước đầu tiên trong quy trình là đơn vị sự nghiệp công có trách nhiệm xây dựng phương án tự chủ tài chính của mình. Trong phương án này, đơn vị phải đề xuất mức độ tự chủ tài chính mà mình có thể đạt được dựa trên dự kiến thu chi trong năm đầu thời kỳ ổn định. Dự toán thu chi này được lập theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 35 của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP và các hướng dẫn chi tiết trong Thông tư này. Phương án này sau đó được báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp (thường là đơn vị dự toán cấp 1). Đối với các đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện, phương án này sẽ được gửi đến cơ quan tài chính cùng cấp để xem xét.
Cơ quan quản lý cấp trên sau khi nhận được phương án từ các đơn vị trực thuộc có trách nhiệm tổng hợp và thẩm tra. Việc thẩm tra tập trung vào tính hợp lý, chính xác của dự toán thu chi và đề xuất phân loại mức độ tự chủ tài chính của đơn vị. Dựa trên kết quả thẩm tra, cơ quan quản lý cấp trên sẽ gửi phương án tổng hợp cùng đề xuất của mình đến cơ quan tài chính cùng cấp (Bộ Tài chính đối với các đơn vị thuộc trung ương, cơ quan tài chính cùng cấp đối với đơn vị thuộc địa phương) để xin ý kiến bằng văn bản.
Ra quyết định giao quyền tự chủ
Sau khi nhận được ý kiến bằng văn bản từ cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan quản lý cấp trên sẽ ra quyết định chính thức giao quyền tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công. Quyết định này sẽ xác định rõ đơn vị thuộc nhóm tự chủ tài chính nào (nhóm 1, 2, 3, hoặc 4). Đối với các đơn vị thuộc nhóm 3 và nhóm 4 (tự bảo đảm một phần hoặc do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên), quyết định cũng sẽ xác định cụ thể mức kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ chi thường xuyên được giao tự chủ trong năm đầu thời kỳ ổn định. Ngoài ra, kinh phí đặt hàng và nguồn thu phí được để lại chi (nếu có) cũng được thể hiện trong quyết định. Đối với các đơn vị thuộc địa phương, việc ra quyết định này thường được thực hiện bởi Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc cơ quan được ủy quyền, sau khi có ý kiến của cơ quan tài chính cùng cấp.
Thời kỳ ổn định và điều chỉnh phương án
Thông tư 56/2022/TT-BTC quy định thời kỳ giao quyền tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công là 05 năm, nhằm tạo sự ổn định cho đơn vị trong việc lập kế hoạch và triển khai hoạt động. Thời kỳ ổn định tự chủ tài chính lần đầu được áp dụng đến hết năm 2025. Vào năm cuối của mỗi thời kỳ ổn định, các đơn vị có trách nhiệm tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong thời kỳ vừa qua, đồng thời xây dựng phương án tự chủ tài chính cho thời kỳ ổn định tiếp theo. Phương án này được gửi cho cơ quan quản lý cấp trên cùng với thời gian lập dự toán ngân sách hàng năm.
Trong thời gian 05 năm ổn định, trường hợp có sự thay đổi lớn về chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, hoặc có biến động bất thường về kinh tế – xã hội, thiên tai, dịch bệnh dẫn đến sự thay đổi đáng kể về nguồn thu hoặc nhiệm vụ chi làm ảnh hưởng lớn đến mức độ tự chủ tài chính đã được phê duyệt, đơn vị có thể đề nghị xem xét điều chỉnh phương án. Việc này được thực hiện sau khi đơn vị đã sử dụng các quỹ đã trích lập theo quy định nhưng vẫn không cân đối được thu chi theo phương án đã duyệt. Đơn vị sẽ xây dựng lại phương án tự chủ tài chính và trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt lại cho thời gian còn lại của thời kỳ ổn định. Quy trình xem xét và phê duyệt lại cũng tuân thủ các bước như quy trình giao quyền tự chủ lần đầu. Đối với các đơn vị hoạt động không hiệu quả sau khi rà soát phương án tự chủ, Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét sắp xếp, tổ chức lại hoặc giải thể theo quy định. Đặc biệt, Thông tư khuyến khích các cơ quan quản lý rà soát và có lộ trình nâng mức độ tự chủ tài chính cho các đơn vị thuộc nhóm 3 sau mỗi thời kỳ ổn định, nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
FAQ: Giải đáp thắc mắc về Thông tư 56/2022/TT-BTC
Thông tư 56/2022/TT-BTC là một văn bản pháp lý quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hàng nghìn đơn vị sự nghiệp công tại Việt Nam. Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp nhằm làm rõ hơn các nội dung chính của Thông tư.
Mục đích chính của Thông tư 56/2022/TT-BTC là gì?
Mục đích chính của Thông tư 56/2022/TT-BTC là hướng dẫn chi tiết việc triển khai cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công theo quy định của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP. Thông tư làm rõ các nội dung như phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, cách phân loại mức độ tự chủ, phương pháp xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên, quy trình giao quyền tự chủ, và cách xử lý tài sản, tài chính khi đơn vị bị tổ chức lại hoặc giải thể.
Các đơn vị sự nghiệp công được phân loại theo mấy mức độ tự chủ tài chính?
Theo Thông tư 56/2022/TT-BTC, các đơn vị sự nghiệp công được phân loại thành bốn nhóm dựa trên mức độ tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư: Nhóm 1 (tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư), Nhóm 2 (tự bảo đảm chi thường xuyên), Nhóm 3 (tự bảo đảm một phần chi thường xuyên), và Nhóm 4 (do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên).
Công thức xác định mức tự bảo đảm chi thường xuyên là gì?
Mức tự bảo đảm chi thường xuyên của đơn vị sự nghiệp công được xác định bằng công thức: *(Tổng các khoản thu tính tự chủ / Tổng các khoản chi thường xuyên tính tự chủ) 100%**. Thông tư 56/2022/TT-BTC quy định rõ những khoản thu và chi nào được tính vào công thức này.
Thời kỳ ổn định tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công là bao lâu?
Thời kỳ giao quyền tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp công theo quy định là 05 năm. Thời kỳ ổn định đầu tiên được áp dụng cho đến hết năm 2025. Sau mỗi thời kỳ ổn định, các đơn vị và cơ quan quản lý sẽ rà soát và xem xét phương án tự chủ cho giai đoạn tiếp theo.
Có được điều chỉnh phương án tự chủ tài chính trong thời kỳ ổn định không?
Có, trong thời kỳ ổn định 05 năm, nếu có sự thay đổi lớn về chức năng, nhiệm vụ hoặc biến động bất khả kháng (như thiên tai, dịch bệnh) làm ảnh hưởng đáng kể đến thu chi và thay đổi mức độ tự chủ tài chính đã được phê duyệt, sau khi đã sử dụng các quỹ dự phòng, đơn vị có thể xây dựng lại phương án và trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt lại cho thời gian còn lại của thời kỳ ổn định.
Thông tư 56/2022/TT-BTC là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công. Văn bản này cung cấp khung pháp lý chi tiết, tạo điều kiện cho các đơn vị nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Việc nắm vững và thực hiện đúng các quy định trong Thông tư là yếu tố then chốt để các đơn vị sự nghiệp công có thể phát huy tối đa quyền tự chủ, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Nhà nước và xã hội. Đây là thông tin hữu ích mà Edupace mong muốn chia sẻ đến bạn đọc.





