Hệ thống giáo dục quốc dân tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn cải cách để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Một trong những cột mốc quan trọng là sự ra đời của Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018. Chương trình này mang đến nhiều thay đổi căn bản, định hướng giáo dục hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho người học.
Bối cảnh và sự cần thiết của Chương trình 2018
Sự phát triển không ngừng của đất nước sau hơn 30 năm đổi mới đã đặt ra những yêu cầu mới cho chất lượng nguồn nhân lực. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu kinh tế đáng kể, Việt Nam vẫn đối diện với những thách thức về năng lực cạnh tranh và chất lượng con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Bên cạnh đó, những biến động toàn cầu như cách mạng công nghiệp 4.0, biến đổi khí hậu và các thách thức xã hội khác đòi hỏi mỗi cá nhân phải có khả năng thích ứng cao.
Trước thực tế đó, việc đổi mới giáo dục một cách căn bản và toàn diện trở nên cấp thiết. Nghị quyết số 29/NQ-TW năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XI) đã xác định rõ mục tiêu này. Tiếp đó, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, hướng tới chuyển đổi nền giáo dục từ chủ yếu truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực. Quyết định số 404/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2015 đã phê duyệt Đề án đổi mới, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018.
Quan điểm cốt lõi khi xây dựng Chương trình
Việc xây dựng Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 dựa trên nhiều quan điểm quan trọng nhằm đảm bảo tính khoa học, kế thừa và hiện đại. Chương trình được xem là văn bản pháp lý quan trọng, thể hiện mục tiêu và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, đồng thời là cơ sở để quản lý chất lượng giáo dục và là cam kết của Nhà nước về chất lượng hệ thống giáo dục.
Chương trình kế thừa những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông trước đây tại Việt Nam, đồng thời tiếp thu các thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ các nền giáo dục tiên tiến theo mô hình phát triển năng lực. Nội dung chương trình gắn liền với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ khoa học – công nghệ và phù hợp với đặc điểm con người, văn hóa Việt Nam cùng các giá trị truyền thống của dân tộc và giá trị chung của nhân loại. Chương trình cũng đề cao việc tạo cơ hội bình đẳng cho mọi học sinh được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe và tham gia.
Một trong những điểm nhấn quan trọng là chương trình chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực cho người học thông qua việc cung cấp kiến thức, kỹ năng cơ bản, thiết thực và hiện đại. Chương trình đảm bảo sự hài hòa giữa đức, trí, thể, mỹ, khuyến khích thực hành và vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả học tập cũng được định hướng phù hợp với mục tiêu phát triển năng lực, thúc đẩy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh. Chương trình đảm bảo sự kết nối liên tục giữa các lớp học, cấp học và liên thông với giáo dục mầm non, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Thông tin lịch ngày 6/3/2023 dương lịch
- Thiết Kế Góc Học Tập Cho Bé Đẹp Giúp Con Phát Triển Toàn Diện
- Hiểu rõ Concrete Nouns là gì và Abstract Nouns
- Top Trung Tâm Học Tiếng Anh Cho Người Mới Bắt Đầu Hiệu Quả Nhất
- Nằm Mơ Thấy Ma Nữ: Giải Mã Bí Ẩn Và Điềm Báo Tâm Linh
Đặc biệt, Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 được xây dựng theo hướng mở. Điều này thể hiện ở việc chương trình xác định các định hướng thống nhất và nội dung cốt lõi, bắt buộc trên toàn quốc, nhưng đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường. Các đơn vị này có thể lựa chọn, bổ sung nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch phù hợp với đối tượng học sinh, điều kiện của địa phương và nhà trường, tạo sự kết nối chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Chương trình cũng chỉ quy định các nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt, nội dung, phương pháp giáo dục và đánh giá, tránh quy định quá chi tiết để khuyến khích sự chủ động, sáng tạo của tác giả sách giáo khoa và giáo viên trong quá trình thực hiện. Tính mở này còn đảm bảo khả năng cập nhật, phát triển chương trình theo tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu thực tế trong tương lai.
Mục tiêu tổng thể của Chương trình
Mục tiêu chính của Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 là cụ thể hóa mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức nền tảng, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống và phát triển khả năng tự học suốt đời. Chương trình định hướng cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, hình thành cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú. Nhờ đó, học sinh có thể sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững của đất nước và nhân loại.
Ở từng cấp học, chương trình có những mục tiêu cụ thể hơn. Cấp tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5) tập trung vào việc hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực. Giáo dục tiểu học định hướng chính vào việc giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng cùng những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.
Cấp trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9) tiếp tục phát triển các phẩm chất và năng lực đã được hình thành ở cấp tiểu học. Học sinh ở giai đoạn này được khuyến khích tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng nền tảng. Chương trình cung cấp những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và xây dựng ý thức hướng nghiệp để học sinh có định hướng tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động.
Cấp trung học phổ thông (từ lớp 10 đến lớp 12) giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất và năng lực cần thiết đối với người lao động và công dân. Giai đoạn này tập trung vào việc nâng cao khả năng tự học, ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích. Học sinh được chuẩn bị để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.
Phát triển Phẩm chất Chủ yếu cho Học sinh
Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 xác định rõ 5 phẩm chất chủ yếu mà học sinh cần hình thành và phát triển trong suốt quá trình học tập: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Những phẩm chất này được bồi đắp dần qua các cấp học với mức độ yêu cầu ngày càng cao hơn.
Ở cấp tiểu học, phẩm chất yêu nước được thể hiện qua việc học sinh yêu thiên nhiên, có hành động bảo vệ môi trường, yêu quý quê hương, Tổ quốc và tôn trọng các biểu trưng quốc gia. Học sinh biết kính trọng, biết ơn người lao động, người có công và tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa đơn giản. Lên cấp trung học cơ sở, yêu cầu cao hơn khi học sinh tích cực, chủ động tham gia bảo vệ thiên nhiên, tìm hiểu truyền thống gia đình, quê hương để phát huy, và có ý thức bảo vệ các di sản văn hóa. Đến cấp trung học phổ thông, phẩm chất yêu nước phát triển thành ý thức vận động người khác bảo vệ thiên nhiên, tự giác thực hiện và vận động người khác tuân thủ pháp luật, bảo vệ di sản văn hóa, đấu tranh với hành vi xâm phạm lãnh thổ quốc gia và sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.
Phẩm chất nhân ái ở cấp tiểu học bắt đầu bằng việc yêu quý mọi người, yêu thương, quan tâm người thân, bạn bè, thầy cô, tôn trọng và giúp đỡ người lớn tuổi, người yếu thế. Học sinh biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn. Ở cấp trung học cơ sở, phẩm chất này được nâng cao qua việc học sinh trân trọng danh dự, sức khỏe, cuộc sống riêng tư của người khác, không đồng tình với cái ác, bạo lực, sẵn sàng bênh vực người yếu thế và tích cực tham gia hoạt động từ thiện, phục vụ cộng đồng. Lên cấp trung học phổ thông, học sinh quan tâm đến mối quan hệ hài hòa với mọi người, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, đấu tranh với các hành vi xâm phạm quyền lợi, và chủ động vận động người khác tham gia hoạt động từ thiện.
Về sự tôn trọng sự khác biệt, cấp tiểu học yêu cầu học sinh tôn trọng sự khác biệt của bạn bè về ngoại hình, tính cách, hoàn cảnh, không phân biệt đối xử và sẵn sàng tha thứ. Ở cấp trung học cơ sở, học sinh tôn trọng sự khác biệt về nhận thức, phong cách cá nhân và sự đa dạng văn hóa dân tộc, đồng thời cảm thông, giúp đỡ mọi người. Đến cấp trung học phổ thông, sự tôn trọng mở rộng ra sự khác biệt về lựa chọn nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, đa dạng văn hóa cá nhân và có ý thức học hỏi văn hóa thế giới, độ lượng với lỗi lầm của người khác.
Phẩm chất chăm chỉ ở cấp tiểu học là biểu hiện qua việc đi học đầy đủ, hoàn thành nhiệm vụ học tập, ham học hỏi, thích đọc sách và vận dụng kiến thức vào đời sống. Học sinh chăm làm bằng cách tham gia công việc gia đình, trường lớp phù hợp sức mình. Cấp trung học cơ sở yêu cầu học sinh cố gắng vươn lên trong học tập, thích tìm hiểu qua sách báo, Internet, vận dụng kiến thức vào cuộc sống, cố gắng trong lao động ở trường lớp, cộng đồng, và có hiểu biết về một nghề phổ thông. Cấp trung học phổ thông nâng tầm phẩm chất chăm chỉ bằng việc học sinh tự đánh giá điểm mạnh/yếu để xây dựng kế hoạch học tập, tích cực tìm tòi sáng tạo, vượt khó trong học tập và lao động, tích cực tham gia công việc phục vụ cộng đồng và rèn luyện cho nghề nghiệp tương lai.
Đối với phẩm chất trung thực, cấp tiểu học yêu cầu học sinh thật thà, ngay thẳng, giữ lời hứa, nhận lỗi, sửa lỗi, bảo vệ cái đúng, không lấy đồ vật của người khác và không đồng tình với hành vi thiếu trung thực. Ở cấp trung học cơ sở, học sinh luôn thống nhất lời nói với việc làm, nghiêm túc nhìn nhận khuyết điểm, chịu trách nhiệm về lời nói, hành vi, tôn trọng lẽ phải, bảo vệ điều hay, khách quan, công bằng, không xâm phạm của công và đấu tranh với hành vi thiếu trung thực. Đến cấp trung học phổ thông, phẩm chất trung thực phát triển thành ý thức nhận thức và hành động theo lẽ phải, sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lẽ phải, người tốt, và vận động người khác đấu tranh với hành vi thiếu trung thực, vi phạm đạo đức, pháp luật.
Cuối cùng, phẩm chất trách nhiệm được hình thành từ cấp tiểu học với ý thức giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, sinh hoạt nền nếp, bảo quản đồ dùng, tiết kiệm tiền bạc, điện nước. Học sinh có trách nhiệm với nhà trường, xã hội qua việc thực hiện nội quy, giữ vệ sinh, bảo vệ của công, không gây mất trật tự, nhắc nhở bạn bè, người thân, tích cực tham gia hoạt động tập thể. Có trách nhiệm với môi trường sống qua việc chăm sóc cây xanh, vật nuôi, giữ vệ sinh môi trường, không xả rác và không đồng tình hành vi xâm hại thiên nhiên. Lên cấp trung học cơ sở, trách nhiệm cá nhân bao gồm thói quen vệ sinh, bảo quản đồ dùng, tiết kiệm thời gian, khắc phục hậu quả do mình gây ra. Trách nhiệm với gia đình là quan tâm công việc nhà, tiết kiệm chi tiêu. Trách nhiệm với nhà trường, xã hội là quan tâm công việc cộng đồng, tham gia hoạt động công cộng, tuân thủ pháp luật giao thông, không đồng tình hành vi không phù hợp văn hóa, sử dụng Internet đúng quy định. Trách nhiệm với môi trường sống là hòa hợp, thân thiện, tìm hiểu, tuyên truyền bảo vệ thiên nhiên, ứng phó biến đổi khí hậu. Ở cấp trung học phổ thông, trách nhiệm cá nhân là tích cực rèn luyện đạo đức, sử dụng tiền hợp lý, chịu trách nhiệm về lời nói, hành động. Trách nhiệm với gia đình là làm tròn bổn phận, bàn bạc kế hoạch chi tiêu. Trách nhiệm với nhà trường, xã hội là tham gia và vận động người khác tham gia công ích, tuyên truyền pháp luật, đánh giá hành vi chấp hành pháp luật và đấu tranh với hành vi vi phạm. Trách nhiệm với môi trường sống là hiểu ý nghĩa tiết kiệm cho phát triển bền vững, ý thức tiết kiệm tài nguyên, đấu tranh ngăn chặn lãng phí, chủ động tham gia và vận động người khác bảo vệ thiên nhiên, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển bền vững.
Yêu cầu phát triển Năng lực Cốt lõi
Bên cạnh phẩm chất, Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 tập trung phát triển các năng lực cốt lõi, bao gồm năng lực chung và năng lực đặc thù.
Năng lực Chung
Ba năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Các năng lực này cũng được bồi đắp dần theo cấp độ tăng dần qua các cấp học.
Về năng lực tự chủ và tự học, ở cấp tiểu học học sinh biết tự làm việc của mình, nhận biết và bày tỏ tình cảm, hòa nhã với mọi người, thực hiện đúng kế hoạch học tập, nhận ra sai sót, học hỏi thầy cô, bạn bè. Học sinh bước đầu biết định hướng nghề nghiệp qua việc bộc lộ sở thích, biết tên một số nghề quen thuộc. Lên cấp trung học cơ sở, học sinh chủ động thực hiện công việc bản thân, hiểu quyền và nhu cầu chính đáng, làm chủ tình cảm, biết kiên trì thực hiện kế hoạch. Học sinh biết vận dụng linh hoạt kiến thức đã học để giải quyết vấn đề mới, nhận thức sở thích, khả năng, hiểu vai trò kinh tế, nắm thông tin về nghề nghiệp địa phương và lựa chọn hướng phát triển sau THCS. Học sinh biết đặt mục tiêu học tập, lập kế hoạch, tìm tài liệu, lưu giữ thông tin, điều chỉnh sai sót và rèn luyện theo giá trị xã hội. Ở cấp trung học phổ thông, học sinh chủ động, tích cực thực hiện công việc, giúp đỡ người sống ỷ lại, khẳng định và bảo vệ quyền chính đáng, đánh giá được ưu điểm/hạn chế tình cảm, tự điều chỉnh, bình tĩnh, có cách cư xử đúng, sẵn sàng đón nhận thử thách, tránh tệ nạn xã hội. Học sinh điều chỉnh hiểu biết, kỹ năng cho hoạt động/môi trường mới, thay đổi tư duy, thái độ đáp ứng yêu cầu mới, hoàn cảnh mới. Học sinh nhận thức cá tính, giá trị sống, nắm thông tin thị trường lao động, xác định hướng phát triển sau THPT, lập kế hoạch, chọn môn học phù hợp định hướng nghề nghiệp. Học sinh xác định nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả, đặt mục tiêu chi tiết, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch, hình thành cách học riêng, tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn tài liệu, ghi chép phù hợp, tự nhận ra sai sót, suy ngẫm cách học, rèn luyện theo mục tiêu cá nhân và giá trị công dân.
Đối với năng lực giao tiếp và hợp tác, cấp tiểu học học sinh nhận ra ý nghĩa giao tiếp, tiếp nhận văn bản đơn giản có hình ảnh, sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, cử chỉ để trình bày, tập trung chú ý, nhận ra thái độ đối tượng giao tiếp. Học sinh biết kết bạn, giữ gìn tình bạn, nhận ra bất đồng, biết nhường nhịn, thuyết phục. Có thói quen trao đổi, giúp đỡ trong học tập, cùng hoàn thành nhiệm vụ nhóm theo hướng dẫn. Hiểu nhiệm vụ nhóm và trách nhiệm bản thân sau khi được hướng dẫn. Nhận biết đặc điểm thành viên nhóm để đề xuất phân công. Cố gắng hoàn thành phần việc, chia sẻ giúp đỡ. Báo cáo kết quả nhóm, tự nhận xét ưu điểm/thiếu sót theo hướng dẫn. Bước đầu có hiểu biết về một số nước, tham gia hoạt động hội nhập theo hướng dẫn. Lên cấp trung học cơ sở, học sinh biết đặt mục đích giao tiếp, hiểu tầm quan trọng của việc đặt mục tiêu, hiểu nội dung, phương thức giao tiếp phù hợp mục đích. Tiếp nhận văn bản đơn giản có biểu đồ, số liệu. Sử dụng ngôn ngữ, biểu đồ, số liệu để trình bày, thảo luận vấn đề đơn giản. Lắng nghe, phản hồi tích cực, nhận biết ngữ cảnh, đặc điểm, thái độ đối tượng giao tiếp. Thiết lập, duy trì, phát triển quan hệ cộng đồng. Nhận biết mâu thuẫn, có thiện chí dàn xếp. Chủ động đề xuất mục đích hợp tác, xác định công việc hợp tác theo nhóm. Hiểu rõ nhiệm vụ nhóm, đánh giá khả năng, tự nhận công việc phù hợp. Đánh giá nguyện vọng, khả năng thành viên để đề xuất tổ chức hoạt động. Chủ động, gương mẫu hoàn thành việc, góp ý, học hỏi. Nhận xét ưu điểm/thiếu sót bản thân, thành viên, cả nhóm. Có hiểu biết cơ bản về quan hệ Việt Nam – một số nước, tổ chức quốc tế, tích cực tham gia hoạt động hội nhập. Đến cấp trung học phổ thông, học sinh xác định mục đích giao tiếp phù hợp đối tượng, ngữ cảnh, dự kiến thuận lợi/khó khăn. Lựa chọn nội dung, kiểu văn bản, ngôn ngữ, phương tiện phù hợp ngữ cảnh, đối tượng. Tiếp nhận văn bản về khoa học, nghệ thuật phù hợp khả năng, định hướng nghề nghiệp, sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ đa dạng. Sử dụng ngôn ngữ, phương tiện phi ngôn ngữ đa dạng để trình bày, thảo luận, lập luận, đánh giá vấn đề khoa học, nghệ thuật. Chủ động, tự tin, kiểm soát cảm xúc khi nói trước đám đông. Nhận biết, thấu cảm suy nghĩ, tình cảm người khác. Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp, đấu tranh với hành vi xâm phạm. Chủ động vận động người khác tham gia hoạt động từ thiện, cộng đồng. Xác định đúng nguyên nhân mâu thuẫn, biết hóa giải. Chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết vấn đề do bản thân/người khác đề xuất. Lựa chọn hình thức làm việc nhóm phù hợp. Phân tích công việc cần thực hiện, sẵn sàng nhận việc khó. Theo dõi tiến độ, điều phối hoạt động, khiêm tốn tiếp thu, chia sẻ, hỗ trợ. Đánh giá mức độ đạt mục đích cá nhân, nhóm, rút kinh nghiệm, góp ý. Có hiểu biết cơ bản về hội nhập quốc tế, chủ động, tự tin giao tiếp bạn bè quốc tế, tham gia hoạt động hội nhập, tìm đọc tài liệu nước ngoài phục vụ học tập, định hướng nghề nghiệp.
Về năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, cấp tiểu học học sinh nhận ra ý tưởng mới từ tài liệu cho sẵn, thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra vấn đề đơn giản, đặt câu hỏi. Dựa trên hiểu biết, hình thành ý tưởng mới và dự đoán kết quả. Nêu cách giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn. Xác định nội dung, cách thức hoạt động theo hướng dẫn, nhận xét ý nghĩa hoạt động. Nêu thắc mắc, không e ngại nêu ý kiến, sẵn sàng thay đổi khi sai sót. Lên cấp trung học cơ sở, học sinh xác định, làm rõ thông tin, ý tưởng mới, phân tích, tóm tắt thông tin liên quan từ nhiều nguồn. Phân tích tình huống học tập, phát hiện, nêu tình huống có vấn đề. Phát hiện yếu tố mới, tích cực trong ý kiến người khác, hình thành ý tưởng, đề xuất giải pháp, so sánh, bình luận giải pháp. Xác định, tìm hiểu thông tin liên quan, đề xuất giải pháp. Lập kế hoạch hoạt động, phân công nhiệm vụ. Đánh giá sự phù hợp của kế hoạch, giải pháp. Đặt câu hỏi khác nhau về sự vật/hiện tượng, lắng nghe, tiếp nhận thông tin có chọn lọc, quan tâm chứng cứ, đánh giá vấn đề dưới góc nhìn khác nhau. Ở cấp trung học phổ thông, học sinh xác định, làm rõ thông tin, ý tưởng mới phức tạp từ nhiều nguồn độc lập, phân tích độ tin cậy. Phân tích tình huống học tập/cuộc sống, phát hiện, nêu tình huống có vấn đề. Nêu nhiều ý tưởng mới, suy nghĩ không lối mòn, tạo yếu tố mới dựa trên ý tưởng khác nhau, hình thành, kết nối ý tưởng, nghiên cứu thay đổi giải pháp, đánh giá rủi ro, dự phòng. Thu thập, làm rõ thông tin, đề xuất, phân tích một số giải pháp, lựa chọn giải pháp phù hợp nhất. Lập kế hoạch hoạt động chi tiết, tập hợp, điều phối nguồn lực, điều chỉnh kế hoạch, cách giải quyết vấn đề để đạt hiệu quả cao. Đánh giá hiệu quả giải pháp và hoạt động. Đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không chấp nhận thông tin một chiều, không thành kiến, quan tâm lập luận, minh chứng, sẵn sàng xem xét lại vấn đề.
Năng lực Đặc thù
Bên cạnh các năng lực chung, Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 còn tập trung phát triển các năng lực đặc thù thông qua một số môn học chủ đạo. Các năng lực này bao gồm năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, và năng lực thể chất.
Năng lực ngôn ngữ bao gồm sử dụng tiếng Việt và ngoại ngữ (hoặc tiếng dân tộc thiểu số), thể hiện qua 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Môn Ngữ văn (Tiếng Việt ở Tiểu học) và môn Ngoại ngữ đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành và phát triển năng lực này. Yêu cầu cụ thể cho từng kỹ năng và từng cấp học được quy định chi tiết trong chương trình môn học tương ứng, với mức độ tăng dần từ nhận biết đơn giản ở Tiểu học đến phân tích, đánh giá phức tạp ở THPT.
Năng lực tính toán thể hiện qua nhận thức kiến thức toán học, tư duy toán học và vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn. Môn Toán là môn học cốt lõi, bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển năng lực này. Ngoài ra, các môn khoa học tự nhiên, công nghệ, tin học cũng góp phần phát triển năng lực tính toán.
Năng lực khoa học được bồi đắp qua các hoạt động nhận thức khoa học, tìm hiểu tự nhiên/xã hội và vận dụng kiến thức vào đời sống. Các môn Tự nhiên và Xã hội (Tiểu học), Khoa học (Tiểu học), Lịch sử và Địa lí (Tiểu học, THCS), Khoa học tự nhiên (THCS), Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật (THPT) là những môn học chủ đạo. Năng lực này phát triển từ mức độ đơn giản ở Tiểu học đến chuyên sâu ở THPT dưới các góc độ khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Năng lực công nghệ thể hiện qua nhận thức, giao tiếp, sử dụng, đánh giá công nghệ và thiết kế kỹ thuật. Phân môn Công nghệ trong Tin học và Công nghệ (Tiểu học) và môn Công nghệ (THCS, THPT) đóng vai trò cốt lõi. Năng lực này giúp học sinh học tập, làm việc hiệu quả trong môi trường công nghệ, định hướng nghề nghiệp và là nền tảng cho học tập các lĩnh vực liên quan.
Năng lực tin học được thể hiện qua sử dụng và quản lý phương tiện CNTT, ứng xử trong môi trường số, giải quyết vấn đề với CNTT, ứng dụng CNTT trong học tập và tự học, hợp tác trong môi trường số. Phân môn Tin học (Tiểu học) và môn Tin học (THCS, THPT) là chủ đạo. Năng lực này đặc biệt quan trọng trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0.
Năng lực thẩm mĩ bao gồm năng lực âm nhạc, mĩ thuật, văn học, thể hiện qua nhận thức, phân tích, đánh giá, tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mĩ. Các môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Ngữ văn là chủ đạo. Năng lực này góp phần giáo dục học sinh về giá trị văn hóa, nghệ thuật, và phát triển khả năng cảm thụ cái đẹp.
Năng lực thể chất thể hiện qua chăm sóc sức khỏe, vận động cơ bản, và hoạt động thể dục thể thao. Môn Giáo dục thể chất là môn bắt buộc và chủ đạo. Năng lực này giúp học sinh rèn luyện sức khỏe, phát triển thể lực và hình thành thói quen tập luyện suốt đời.
Kế hoạch Giáo dục và Phân bố Nội dung
Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 chia quá trình giáo dục thành hai giai đoạn chính: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12).
Giai đoạn giáo dục cơ bản kéo dài 9 năm, tập trung trang bị cho học sinh kiến thức phổ thông nền tảng, hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi. Giai đoạn này thực hiện theo phương châm giáo dục toàn diện và tích hợp, chuẩn bị cho học sinh tâm thế thích ứng với sự thay đổi của xã hội và đáp ứng yêu cầu phân luồng sau trung học cơ sở. Cấp tiểu học có các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc như Tiếng Việt, Toán, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Lịch sử và Địa lí, Khoa học, Ngoại ngữ 1 (từ lớp 3), Tin học và Công nghệ (từ lớp 3), Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm. Một số môn tự chọn như Tiếng dân tộc thiểu số, Ngoại ngữ 1 (lớp 1, 2) cũng được đưa vào. Thời lượng dạy học trung bình mỗi tuần tăng dần từ 25 tiết (lớp 1, 2) lên 28 tiết (lớp 3) và 30 tiết (lớp 4, 5), mỗi tiết 35 phút.
Tại cấp trung học cơ sở (lớp 6-9), nội dung giáo dục tiếp tục theo hướng tích hợp cao. Các môn học bắt buộc bao gồm Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục công dân, Lịch sử và Địa lí, Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Tin học, Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, và Nội dung giáo dục của địa phương. Các môn tự chọn là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ 2. Thời lượng học mỗi ngày 1 buổi, mỗi buổi không quá 5 tiết, mỗi tiết 45 phút. Số tiết trung bình mỗi tuần là 29 tiết (lớp 6, 7) và 29.5 tiết (lớp 8, 9). Giai đoạn này đảm bảo học sinh có tri thức nền tảng vững chắc và những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề.
Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12) kéo dài 3 năm, thực hiện theo phương châm giáo dục phân hóa. Giai đoạn này nhằm phát triển năng lực theo sở trường, nguyện vọng của từng học sinh, giúp các em tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông hoặc tham gia cuộc sống lao động. Học sinh học các môn bắt buộc là Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng và an ninh, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, Nội dung giáo dục của địa phương. Điểm khác biệt lớn là học sinh được lựa chọn 5 môn học từ 3 nhóm môn (Khoa học xã hội, Khoa học tự nhiên, Công nghệ và nghệ thuật), mỗi nhóm chọn ít nhất 1 môn. Ngoài ra, có các chuyên đề học tập lựa chọn nhằm tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành, vận dụng, đáp ứng định hướng nghề nghiệp. Học sinh chọn 3 cụm chuyên đề học tập phù hợp với bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường. Các môn tự chọn là Tiếng dân tộc thiểu số và Ngoại ngữ 2. Thời lượng học tương tự cấp THCS, với tổng số tiết học trung bình mỗi tuần là 29 tiết.
Định hướng về Nội dung các Lĩnh vực Giáo dục
Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 phân chia nội dung giáo dục thành nhiều lĩnh vực, mỗi lĩnh vực đóng góp vào việc hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh.
Giáo dục ngôn ngữ và văn học bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng, phát triển phẩm chất như yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, cùng các năng lực chung và năng lực đặc thù là năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học. Lĩnh vực này giúp học sinh sử dụng tiếng Việt, ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số hiệu quả và hiểu biết về văn học.
Giáo dục toán học góp phần hình thành phẩm chất, năng lực chung và đặc biệt là năng lực toán học. Môn Toán là cốt lõi, trang bị kiến thức, kỹ năng then chốt, tạo cơ hội vận dụng toán học vào thực tiễn và là nền tảng cho giáo dục STEM. Nội dung được thiết kế tích hợp ba mạch kiến thức: Số, Đại số và Một số yếu tố giải tích; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất.
Giáo dục khoa học xã hội đóng vai trò chủ đạo trong giáo dục nhân sinh quan, thế giới quan, hoàn thiện nhân cách, giáo dục ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước và phẩm chất công dân toàn cầu. Lĩnh vực này giúp học sinh nắm vững tri thức cơ bản về khoa học xã hội, hiểu rõ thế giới, sự tương tác giữa con người, giữa con người và môi trường, giữa dân tộc và thế giới. Học sinh được hình thành năng lực khoa học xã hội và được truyền cảm hứng khám phá.
Giáo dục khoa học tự nhiên có sứ mệnh hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục tinh thần khách quan, tình yêu thiên nhiên, tôn trọng quy luật tự nhiên và ứng xử phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững. Lĩnh vực này giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực khoa học tự nhiên qua quan sát, thực nghiệm, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Các môn Khoa học tự nhiên, Vật lí, Hóa học, Sinh học đóng vai trò cốt lõi và cùng với các môn khác thực hiện giáo dục STEM.
Giáo dục công nghệ hình thành và phát triển năng lực công nghệ, giúp học sinh học tập, làm việc hiệu quả trong môi trường công nghệ, góp phần định hướng nghề nghiệp. Lĩnh vực này có lợi thế trong hình thành năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và cùng các môn khác đóng vai trò quan trọng trong giáo dục STEM.
Giáo dục tin học chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại công nghệ, hỗ trợ đắc lực cho tự học. Lĩnh vực này tạo cơ sở vững chắc cho ứng dụng công nghệ kỹ thuật số và cùng các môn khác thực hiện giáo dục STEM. Tin học giúp hình thành năng lực tin học, đặc biệt trong sử dụng và quản lý công nghệ thông tin, ứng xử trong môi trường số, giải quyết vấn đề với CNTT, ứng dụng CNTT trong học và tự học, hợp tác trong môi trường số.
Giáo dục công dân giữ vai trò chủ đạo trong việc giáo dục ý thức và hành vi công dân, bồi dưỡng phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi. Thông qua các bài học về đạo đức, pháp luật, kinh tế, học sinh hình thành nhận thức, niềm tin, cách ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, quy định pháp luật, có kỹ năng sống và bản lĩnh thực hiện trách nhiệm công dân.
Giáo dục quốc phòng và an ninh bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cơ bản về quốc phòng, an ninh, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục nghệ thuật góp phần hình thành phẩm chất và năng lực chung, tập trung hình thành, phát triển năng lực thẩm mĩ, phát hiện năng khiếu. Lĩnh vực này giáo dục thái độ tôn trọng, kế thừa, phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Giáo dục thể chất góp phần thực hiện mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực, trọng tâm là trang bị kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe và vận động, hình thành thói quen tập luyện, phát triển thể lực.
Giáo dục hướng nghiệp trang bị kiến thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp, giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích và nhu cầu xã hội. Hoạt động hướng nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc biệt ở các năm cuối cấp THCS và toàn bộ cấp THPT.
Các chuyên đề học tập dành cho học sinh THPT nhằm thực hiện phân hóa sâu, giúp học sinh tăng cường kiến thức, kỹ năng thực hành, vận dụng để giải quyết vấn đề thực tiễn, đáp ứng định hướng nghề nghiệp.
Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm cảm xúc, huy động kiến thức, kỹ năng để giải quyết vấn đề, phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường, nghề nghiệp tương lai.
Nội dung giáo dục của địa phương bổ sung những vấn đề cơ bản về văn hóa, lịch sử, địa lý, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của địa phương, giúp học sinh hiểu biết về nơi sinh sống, bồi dưỡng tình yêu quê hương và vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề của địa phương.
Định hướng về Phương pháp Giáo dục và Đánh giá Kết quả
Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 định hướng đổi mới căn bản về phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả học tập.
Về phương pháp giáo dục, chương trình áp dụng các phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh. Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen tự học, phát huy tiềm năng và kiến thức đã tích lũy. Các hoạt động học tập đa dạng như khám phá vấn đề, luyện tập, thực hành, ứng dụng kiến thức vào đời sống. Hình thức tổ chức học tập linh hoạt trong và ngoài nhà trường, bao gồm học lý thuyết, bài tập, thí nghiệm, trò chơi, dự án nghiên cứu, tham quan, sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng. Học sinh được làm việc độc lập, theo nhóm hoặc cả lớp, nhưng luôn đảm bảo mỗi học sinh được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế.
Về đánh giá kết quả giáo dục, mục tiêu là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và sự tiến bộ của học sinh. Kết quả đánh giá nhằm hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh, giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy học, hỗ trợ công tác quản lý và phát triển chương trình, đảm bảo sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình các môn học, hoạt động giáo dục. Phạm vi đánh giá bao gồm tất cả các môn học và hoạt động giáo dục. Đối tượng đánh giá là cả sản phẩm và quá trình học tập, rèn luyện của học sinh. Kết quả giáo dục được đánh giá bằng cả hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên (do giáo viên, cha mẹ, học sinh tự đánh giá, bạn bè đánh giá), đánh giá định kỳ (do nhà trường tổ chức), và các kỳ đánh giá trên diện rộng (cấp quốc gia, cấp địa phương, quốc tế). Phương thức đánh giá đảm bảo độ tin cậy, khách quan, phù hợp với lứa tuổi, cấp học, tránh gây áp lực cho học sinh và tốn kém cho xã hội. Chương trình cũng khuyến khích nghiên cứu áp dụng thành tựu khoa học đo lường, đánh giá và kinh nghiệm quốc tế để nâng cao chất lượng đánh giá.
Điều kiện để triển khai Chương trình hiệu quả
Để Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 được triển khai thành công, cần đảm bảo nhiều điều kiện về tổ chức, con người và cơ sở vật chất. Nhà trường là trung tâm văn hóa giáo dục, có quyền tự chủ và thực hiện quy chế dân chủ, đồng thời tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục. Cơ cấu tổ chức và quản lý nhà trường cần theo đúng quy định của Điều lệ trường phổ thông.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đóng vai trò then chốt. Hiệu trưởng cần đạt chuẩn nghề nghiệp và được bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý giáo dục, và chương trình mới. Số lượng và cơ cấu giáo viên phải đảm bảo đủ để dạy các môn học và hoạt động giáo dục, 100% đạt chuẩn hoặc trên chuẩn trình độ đào tạo, đạt chuẩn nghề nghiệp và được đảm bảo quyền lợi. Giáo viên cần được bồi dưỡng, tập huấn về dạy học theo chương trình mới. Nhân viên cũng cần đạt chuẩn chuyên môn và được bồi dưỡng kiến thức liên quan đến nhiệm vụ.
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cần đáp ứng các quy định tối thiểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về địa điểm, diện tích, phòng học, phòng hỗ trợ học tập, thư viện, khu sân chơi, thể dục thể thao, khối phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật.
Xã hội hóa giáo dục là yếu tố quan trọng. Sự nghiệp giáo dục là của toàn dân. Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chương trình và đảm bảo điều kiện thực hiện, chính sách cho đội ngũ. Nhà trường cần chủ động tham mưu, phối hợp với cá nhân, tổ chức ở địa phương để huy động nguồn lực, hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất và xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh. Phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục gia đình và nhà trường là cần thiết, với sự hướng dẫn và tham gia của cha mẹ học sinh. Phối hợp giữa giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội thông qua việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động Đoàn, Đội, Hội, hoạt động xã hội, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội địa phương.
Phát triển liên tục Chương trình Giáo dục Phổ thông
Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 không phải là một văn bản đóng mà là một chương trình mở, có khả năng phát triển liên tục. Hoạt động phát triển chương trình là thường xuyên, bao gồm việc đánh giá, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện trong quá trình thực hiện.
Dựa trên nội dung và yêu cầu cần đạt của chương trình chung, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tổ chức xây dựng các chương trình giáo dục chuyên biệt dành cho học sinh giỏi, học sinh khuyết tật, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Các trường cũng có quyền xây dựng kế hoạch giáo dục riêng một cách linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và nhà trường, nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu và chất lượng giáo dục chung.
Trong quá trình triển khai, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ thường xuyên tổ chức khảo sát thực tế, lấy ý kiến từ các cơ quan quản lý, nhà trường, cán bộ, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và những người quan tâm để đánh giá chương trình. Dựa trên kết quả đánh giá, chương trình có thể được xem xét, điều chỉnh, bổ sung các nội dung mới nếu cần thiết và hướng dẫn thực hiện các điều chỉnh đó. Quy trình này đảm bảo chương trình luôn cập nhật, phù hợp với sự phát triển của khoa học – công nghệ và nhu cầu thực tiễn của xã hội.
Hỏi đáp thường gặp về Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018
Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 là gì?
Đây là văn bản quy định những vấn đề chung nhất và mang tính định hướng cho toàn bộ chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam, bao gồm quan điểm xây dựng, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, hệ thống môn học, thời lượng, định hướng nội dung, phương pháp giáo dục và đánh giá, điều kiện thực hiện. Chương trình tổng thể được ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT.
Mục tiêu chính của Chương trình 2018 là gì?
Mục tiêu chính là phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho học sinh, giúp các em làm chủ kiến thức phổ thông, vận dụng hiệu quả vào đời sống, có khả năng tự học suốt đời, định hướng nghề nghiệp phù hợp và đóng góp tích cực cho xã hội.
Điểm mới nổi bật nhất về phẩm chất và năng lực trong Chương trình 2018 là gì?
Điểm mới là chương trình chuyển từ chủ yếu truyền thụ kiến thức sang tập trung hình thành và phát triển 5 phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và 10 năng lực cốt lõi (3 năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; 7 năng lực đặc thù: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, tin học, thẩm mĩ, thể chất). Yêu cầu về phẩm chất và năng lực được quy định rõ ràng ở cuối mỗi cấp học.
Chương trình 2018 phân chia các giai đoạn giáo dục như thế nào?
Chương trình chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) nhằm trang bị nền tảng kiến thức và kỹ năng, hình thành phẩm chất, năng lực cốt lõi, chuẩn bị cho phân luồng sau THCS. Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12) nhằm phát triển năng lực theo sở trường, nguyện vọng, đảm bảo học sinh tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn sau phổ thông hoặc tham gia lao động.
Phương pháp giảng dạy và đánh giá học sinh theo Chương trình 2018 có gì khác biệt?
Về phương pháp giảng dạy, chương trình định hướng áp dụng các phương pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh, giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn. Về đánh giá, chương trình chuyển sang đánh giá vì sự phát triển của học sinh, kết hợp đánh giá định tính và định lượng, đánh giá thường xuyên và định kỳ, dựa trên yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, với sự tham gia của giáo viên, học sinh, phụ huynh và cộng đồng.
Nhìn chung, Chương trình Giáo dục Phổ thông tổng thể 2018 đánh dấu một bước chuyển mình mạnh mẽ trong hệ thống giáo dục Việt Nam, tập trung vào việc đào tạo thế hệ trẻ có đủ cả phẩm chất và năng lực để thích ứng với sự phát triển của thời đại. Hiểu rõ về chương trình này giúp các bên liên quan cùng đồng hành hiệu quả vì sự phát triển của học sinh. Edupace mong muốn cung cấp những thông tin hữu ích về các chủ đề giáo dục như thế này.





