Vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 119/2025/NĐ-CP, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Nghị định này sửa đổi nhiều quy định then chốt của Nghị định 06/2022/NĐ-CP, đặc biệt liên quan đến giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và phát triển thị trường các-bon.

Những Điểm Mới Đáng Chú Ý trong Nghị định 119/2025/NĐ-CP

Nghị định 119/2025/NĐ-CP đã điều chỉnh và bổ sung nhiều khái niệm quan trọng, mở rộng phạm vi áp dụng và làm rõ các cơ chế hoạt động trong lĩnh vực môi trường. Phạm vi áp dụng của Nghị định mới được làm rõ hơn, bao gồm các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động phát thải khí nhà kính, giảm nhẹ phát thải, hấp thụ khí nhà kính, cũng như việc tổ chức và phát triển thị trường các-bon, thực hiện các cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon cả trong nước và quốc tế. Ngoài ra, Nghị định cũng áp dụng cho các hoạt động sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, tiêu thụ và xử lý các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal.

Các định nghĩa mới được thêm vào, phản ánh sự hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào các cam kết quốc tế về khí hậu. Đặc biệt, khái niệm về Cơ chế Điều 6.2 Thỏa thuận ParisCơ chế Điều 6.4 Thỏa thuận Paris đã được định nghĩa rõ ràng. Cơ chế Điều 6.2 là cơ chế trao đổi song phương tín chỉ các-bon giữa các quốc gia để sử dụng cho mục tiêu giảm phát thải trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Cơ chế Điều 6.4 cho phép các tổ chức, dự án tại các quốc gia thành viên Thỏa thuận Paris đăng ký chương trình, dự án theo phương pháp được UNFCCC công nhận và được cấp tín chỉ các-bon sau thẩm định. Nghị định cũng bổ sung định nghĩa về Làm mát bền vững, nhấn mạnh việc sử dụng giải pháp thân thiện với khí hậu, tiết kiệm năng lượng và sử dụng chất được kiểm soát có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu thấp hoặc bằng không. Một điểm mới quan trọng khác là định nghĩa về Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, làm rõ vai trò của hệ thống này trong việc quản lý, vận hành, cập nhật thông tin sở hữu hạn ngạch, tín chỉ các-bon và xử lý các hoạt động liên quan. Phương pháp tạo tín chỉ các-bon trong nước cũng được định nghĩa là phương pháp tính lượng giảm phát thải hoặc hấp thụ so với kịch bản cơ sở khi chưa áp dụng dự án.

Quy Định Cập Nhật về Giảm Nhẹ Phát Thải Khí Nhà Kính

Nghị định 119/2025/NĐ-CP tiếp tục khẳng định mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), bao gồm mục tiêu cho các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất và lâm nghiệp, quản lý chất thải, và các quá trình công nghiệp. Nghị định làm rõ trách nhiệm của các cơ sở được phân bổ hạn ngạch và các cơ sở chưa được phân bổ hạn ngạch trong việc xây dựng và thực hiện các biện pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với hạn ngạch được giao hoặc kế hoạch cấp lĩnh vực trong giai đoạn từ năm 2025 đến hết năm 2030.

Về hoạt động tăng cường hấp thụ khí nhà kính, đặc biệt là từ rừng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao trách nhiệm thu thập số liệu, tính toán mức hấp thụ tại các vùng sinh thái và từng tỉnh, tổng hợp trong báo cáo kiểm kê cấp lĩnh vực. Hàng năm, Bộ sẽ theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động quản lý rừng bền vững, bảo vệ và nâng cao tỷ lệ che phủ, sinh khối, chất lượng và mức hấp thụ từ rừng trên toàn quốc. Đồng thời, Bộ chủ trì xây dựng phương pháp tạo tín chỉ các-bon từ hoạt động quản lý rừng bền vững phục vụ triển khai cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước.

Hệ thống quốc gia đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (MRV) cũng được củng cố. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đóng vai trò cơ quan đầu mối, chịu trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ quy định MRV và chủ trì xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu trực tuyến quốc gia về MRV. Các bộ quản lý lĩnh vực và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc tuân thủ của các cơ sở thuộc phạm vi quản lý. Các cơ sở thuộc diện phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính có trách nhiệm tuân thủ quy định MRV, cung cấp thông tin, số liệu theo yêu cầu.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Về báo cáo giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, các cơ sở phải xây dựng báo cáo cấp cơ sở định kỳ hàng năm (của năm trước kỳ báo cáo) theo mẫu quy định, gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước ngày 31 tháng 3 kể từ năm 2027. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 30 tháng 6 hàng năm kể từ năm 2027. Các bộ quản lý lĩnh vực xây dựng báo cáo giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp lĩnh vực hàng năm gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 15 tháng 01 kể từ năm 2024. Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp các báo cáo này. Hoạt động thẩm định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được thực hiện ở cả cấp lĩnh vực (do các bộ quản lý thực hiện hàng năm từ 2023) và cấp quốc gia (do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành). Quy trình thẩm định cấp quốc gia được mô tả chi tiết, bao gồm thành lập Hội đồng thẩm định với số lượng thành viên ít nhất là 09, yêu cầu về sự tham gia tối thiểu (hai phần ba thành viên, có Chủ tịch/Phó Chủ tịch, Thư ký, ít nhất 01 phản biện), trách nhiệm của Chủ tịch hội đồng, nội dung đánh giá của thành viên hội đồng, và thời hạn thông qua biên bản họp (10 ngày).

Cập nhật cũng được đưa ra đối với hoạt động kiểm kê khí nhà kính. Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm thẩm định kết quả kiểm kê khí nhà kính cấp lĩnh vực và cấp cơ sở được phân bổ hạn ngạch. Báo cáo kết quả kiểm kê khí nhà kính định kỳ hai năm một lần của cơ sở phải bao gồm số liệu của hai năm liền kề năm nộp báo cáo. Các bộ quản lý lĩnh vực phối hợp phổ biến phương pháp kiểm kê, cập nhật và công bố danh mục hệ số phát thải, xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu trực tuyến về kiểm kê khí nhà kính. Các cơ sở thuộc danh mục phải kiểm kê có trách nhiệm cung cấp số liệu hoạt động, thực hiện kiểm kê định kỳ hai năm một lần (từ 2024 cho hầu hết, từ 2026 cho nhà máy nhiệt điện, thép, xi măng, từ 2028 cho các cơ sở khác được phân bổ hạn ngạch từ 2027). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận, rà soát, tổng hợp kết quả kiểm kê của cơ sở trên địa bàn gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các bộ quản lý lĩnh vực trước ngày 30 tháng 6 kể từ năm 2025. Kết quả kiểm kê của các cơ sở được phân bổ hạn ngạch phải được đơn vị thẩm định xác nhận và gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 01 tháng 12 kể từ năm 2027.

Tổ chức phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho cơ sở được quy định cụ thể theo từng giai đoạn. Giai đoạn 2025-2026 là giai đoạn thí điểm, áp dụng cho các nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất sắt thép, xi măng thuộc danh mục phải kiểm kê. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng đề xuất lượng hạn ngạch cho từng cơ sở và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng hạn ngạch theo giai đoạn và hàng năm. Sau khi được phê duyệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ phân bổ cho các cơ sở trước ngày 31 tháng 12 năm 2025. Giai đoạn 2027-2028 và 2029-2030, các bộ quản lý lĩnh vực đề xuất danh mục cơ sở và lượng hạn ngạch phân bổ hàng năm cho từng cơ sở, gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường trước ngày 30 tháng 6 của năm 2027 và 2029 tương ứng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, trình Thủ tướng phê duyệt tổng hạn ngạch và phân bổ cho các cơ sở trước ngày 31 tháng 10 của năm 2027 và 2029 tương ứng. Phương pháp xác định hạn ngạch dựa trên mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm, mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu giảm phát thải của lĩnh vực/cơ sở, tiềm năng giảm phát thải, năng lực kỹ thuật, công nghệ, tài chính. Cơ sở được phân bổ hạn ngạch được phép trao đổi hạn ngạch và tín chỉ các-bon trên Sàn giao dịch các-bon theo lộ trình. Chi phí phân bổ hạn ngạch được bố trí từ ngân sách nhà nước.

Đối với các cơ sở chưa được phân bổ hạn ngạch trong giai đoạn 2026-2030, họ có trách nhiệm xây dựng, phê duyệt và cập nhật kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cấp cơ sở gửi các cơ quan quản lý trước ngày 31 tháng 12 năm 2025. Nghị định cũng quy định rõ đơn vị thẩm định kết quả kiểm kê và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính là các tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận theo quy định pháp luật. Trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và hoạt động thẩm định thuộc về Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các bộ quản lý lĩnh vực liên quan.

Tổ Chức và Phát Triển Thị Trường Các-bon tại Việt Nam

Nghị định 119/2025/NĐ-CP dành một mục riêng để quy định chi tiết về việc tổ chức và phát triển thị trường các-bon trong nước. Đối tượng tham gia trực tiếp trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính là các cơ sở được phân bổ hạn ngạch theo quy định. Đối tượng trao đổi tín chỉ các-bon là các cơ quan, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam. Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính, hỗ trợ giao dịch cũng được xem là đối tượng hỗ trợ trên thị trường.

Lộ trình phát triển thị trường các-bon được chia làm hai giai đoạn chính. Giai đoạn đến hết năm 2028 tập trung vào việc thiết lập Hệ thống đăng ký quốc gia, xây dựng và vận hành thí điểm Sàn giao dịch các-bon trong nước, triển khai cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và các hoạt động tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức. Giai đoạn từ năm 2029 sẽ hoàn thiện cơ chế đấu giá hạn ngạch phát thải khí nhà kính, hoàn thiện quy định quản lý tín chỉ các-bon, hoạt động trao đổi hạn ngạch và tín chỉ, cũng như quy định pháp luật về tổ chức, quản lý, vận hành thị trường các-bon trong nước và tham gia thị trường các-bon thế giới.

Hệ thống đăng ký quốc gia là thành phần trung tâm trong việc quản lý hạn ngạch phát thải khí nhà kínhtín chỉ các-bon. Hệ thống này do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành và kết nối dữ liệu với sàn giao dịch các-bon. Hệ thống bao gồm hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, phần mềm quản lý thông tin và cơ sở dữ liệu về hạn ngạch, tín chỉ, các cơ chế trao đổi. Các cơ sở được phân bổ hạn ngạch và tổ chức tham gia dự án theo các cơ chế liên quan sẽ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp tài khoản trên hệ thống. Đối với các tổ chức tham gia dự án theo một số cơ chế cụ thể, quy định về hồ sơ và thời hạn cấp tài khoản (05 ngày làm việc) cũng được nêu rõ.

Nghị định quy định chi tiết về các hoạt động trao đổi, vay mượn, nộp trả, chuyển giao, bù trừ hạn ngạch phát thải khí nhà kínhtín chỉ các-bon. Hạn ngạch phát thải khí nhà kính (thể hiện quyền phát thải bằng 01 tấn CO2 hoặc CO2 tương đương) và tín chỉ các-bon (từ các dự án theo cơ chế được công nhận) được phép trao đổi trên Sàn giao dịch các-bon. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cập nhật lượng hạn ngạch vào tài khoản của cơ sở trên Hệ thống đăng ký quốc gia sau khi phân bổ. Việc xác nhận tín chỉ các-bon để trao đổi trên Sàn giao dịch các-bon cũng được quy định rõ ràng, tùy thuộc vào cơ chế phát sinh tín chỉ.

Về trách nhiệm nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính, cơ sở phải nộp trả lượng hạn ngạch tối thiểu bằng kết quả kiểm kê khí nhà kính trực tiếp trong giai đoạn được phân bổ, trừ đi lượng tín chỉ các-bon đã bù trừ. Việc nộp trả được thực hiện trên Hệ thống đăng ký quốc gia trước ngày 31 tháng 12 của năm kế tiếp giai đoạn được phân bổ. Nhà nước khuyến khích cơ sở tự nguyện nộp trả nhiều hơn. Cơ sở có thể vay mượn hạn ngạch phát thải khí nhà kính từ giai đoạn kế tiếp (tối đa 15% lượng được phân bổ của giai đoạn hiện tại) để đảm bảo nộp trả, nhưng lượng vay mượn này không được sử dụng để trao đổi. Cơ sở cũng có thể chuyển giao lượng hạn ngạch chưa sử dụng hết sau khi nộp trả sang giai đoạn kế tiếp (áp dụng đến hết năm 2030), lượng chuyển giao này được sử dụng để trao đổi. Sau thời hạn nộp trả 30 ngày, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ hủy bỏ số lượng hạn ngạch không được chuyển giao hoặc nộp trả. Cơ sở không thực hiện đầy đủ trách nhiệm nộp trả sẽ bị xử phạt và lượng thiếu sẽ bị trừ vào hạn ngạch giai đoạn kế tiếp.

Việc sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ phát thải khí nhà kính được cho phép tối đa 30% lượng hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ của cơ sở. Hoạt động bù trừ này được thực hiện tự động trên Hệ thống đăng ký quốc gia trong quá trình nộp trả. Hoạt động trao đổi tín chỉ các-bon phục vụ bù trừ phát thải khí nhà kính là việc mua bán tín chỉ giữa các cơ sở được phân bổ hạn ngạch và các tổ chức sở hữu tín chỉ trên Sàn giao dịch các-bon. Nhà nước khuyến khích các tổ chức mua tín chỉ các-bon để giảm phát thải khí nhà kính tự nguyện, đóng góp vào mục tiêu quốc gia, nhưng lượng tín chỉ đã sử dụng cho mục đích tự nguyện này không được trao đổi lại trên thị trường.

Cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước áp dụng cho cơ quan, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam. Đơn vị thẩm định dự án theo cơ chế này là các tổ chức được cấp giấy chứng nhận hoạt động xác nhận giá trị sử dụng, kiểm tra xác nhận. Các bộ quản lý lĩnh vực có trách nhiệm phê duyệt công nhận phương pháp, đăng ký dự án, thay đổi thành phần, hủy đăng ký, và cấp tín chỉ các-bon cho các dự án. Các phương pháp tạo tín chỉ các-bon bao gồm phương pháp do bộ quản lý lĩnh vực xây dựng và công nhận, phương pháp do UNFCCC công nhận áp dụng cho Cơ chế Điều 6.4 Thỏa thuận Paris được các bộ rà soát, lựa chọn và công bố, và phương pháp do tổ chức, cá nhân đề xuất được bộ quản lý lĩnh vực công nhận theo quy trình cụ thể. Quy trình công nhận phương pháp do tổ chức, cá nhân đề xuất cũng được mô tả chi tiết, bao gồm việc nộp hồ sơ, thời hạn thông báo tính hợp lệ (03 ngày làm việc), và thời gian hoàn thiện hồ sơ (không quá 15 ngày).

Tóm lại, Nghị định 119/2025/NĐ-CP là một văn bản pháp lý quan trọng, hoàn thiện khuôn khổ quản lý phát thải khí nhà kính và mở đường cho sự phát triển của thị trường các-bon tại Việt Nam. Những điều chỉnh này không chỉ thúc đẩy các mục tiêu về môi trường mà còn tạo ra cơ hội mới cho doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Edupace sẽ tiếp tục cập nhật những thông tin pháp lý quan trọng này để mang đến cái nhìn toàn diện cho độc giả.

Câu hỏi thường gặp về Nghị định 119/2025/NĐ-CP

1. Mục đích chính của Nghị định 119/2025/NĐ-CP là gì?

Mục đích chính là sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP để hoàn thiện quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-dôn và đặc biệt là tổ chức, phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

2. Những khái niệm mới nào được bổ sung trong Nghị định này?

Nghị định bổ sung các định nghĩa quan trọng như Cơ chế Điều 6.2 và Điều 6.4 Thỏa thuận Paris, Làm mát bền vững, Hệ thống đăng ký quốc gia về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon, và Phương pháp tạo tín chỉ các-bon áp dụng cho cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước.

3. Lộ trình phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam theo Nghị định 119/2025/NĐ-CP như thế nào?

Lộ trình được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn đến hết năm 2028 tập trung vào thiết lập hệ thống đăng ký, vận hành thí điểm sàn giao dịch và triển khai cơ chế tín chỉ trong nước; giai đoạn từ năm 2029 sẽ hoàn thiện cơ chế đấu giá hạn ngạch, quy định quản lý và tham gia thị trường toàn cầu.

4. Các cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính có những trách nhiệm gì?

Các cơ sở này có trách nhiệm xây dựng, thực hiện biện pháp giảm nhẹ phát thải phù hợp với hạn ngạch, thực hiện kiểm kê khí nhà kính định kỳ, nộp trả hạn ngạch phát thải (tối thiểu bằng kết quả kiểm kê trừ đi lượng tín chỉ bù trừ), và có thể tham gia trao đổi, vay mượn, chuyển giao hạn ngạch.

5. Tín chỉ các-bon có thể được sử dụng để làm gì theo Nghị định này?

Tín chỉ các-bon có thể được sử dụng để bù trừ phát thải khí nhà kính của cơ sở được phân bổ hạn ngạch (tối đa 30% lượng hạn ngạch) và được trao đổi trên Sàn giao dịch các-bon. Nhà nước cũng khuyến khích mua tín chỉ để giảm phát thải tự nguyện.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *