Nghị định 79/2019/NĐ-CP là một văn bản pháp luật quan trọng, sửa đổi Điều 16 của Nghị định 45/2014/NĐ-CP liên quan đến việc thu tiền sử dụng đất. Văn bản này tập trung vào việc quy định chi tiết hơn về trình tự, thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất đối với một số đối tượng nhất định khi họ được giao đất tái định cư. Hiểu rõ những quy định này là cần thiết để người dân và các bên liên quan thực hiện đúng pháp luật.

Đối tượng và Phạm vi áp dụng Nghị định 79/2019/NĐ-CP

Nghị định 79/2019/NĐ-CP được ban hành nhằm giải quyết những vướng mắc trong thực tế về thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất theo quy định trước đây, đặc biệt là sau khi có sự thay đổi trong các văn bản pháp luật liên quan. Phạm vi điều chỉnh của Nghị định này hẹp hơn, chỉ tập trung vào việc sửa đổi một điều khoản cụ thể trong Nghị định 45/2014/NĐ-CP, nhưng lại có tác động trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ tài chính của một bộ phận người dân khi họ phải đối mặt với việc thu hồi đất và được bố trí tái định cư. Việc nắm vững những quy định này giúp người dân chủ động hơn trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai.

Ai được ghi nợ tiền sử dụng đất?

Theo quy định tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP, quyền được ghi nợ tiền sử dụng đất khi được giao đất tái định cư chỉ áp dụng cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc một trong các nhóm đối tượng đặc biệt sau đây: người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về người có công; hộ nghèo; hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số; hoặc hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại các địa bàn cấp xã được Nhà nước công nhận là địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn. Việc xác định các đối tượng này phải căn cứ vào các quy định hiện hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác. Đây là chính sách ưu đãi nhằm hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội khi họ phải di dời chỗ ở vì lợi ích công cộng hoặc các mục đích phát triển kinh tế – xã hội.

Xác định số tiền ghi nợ

Số tiền ghi nợ tiền sử dụng đất mà hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được ghi nợ phải thực hiện được xác định một cách rõ ràng và minh bạch. Theo Nghị định 79/2019/NĐ-CP, số tiền này chính là phần chênh lệch giữa tổng số tiền sử dụng đất mà hộ gia đình, cá nhân đó phải nộp khi được Nhà nước giao đất tái định cư và tổng giá trị được bồi thường về đất, cùng các khoản hỗ trợ về đất mà họ nhận được khi Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất. Công thức tính được quy định cụ thể: Tiền sử dụng đất ghi nợ = Tiền sử dụng đất phải nộp khi được giao đất tái định cư – Giá trị bồi thường về đất, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất. Điều này đảm bảo rằng chỉ phần nghĩa vụ tài chính vượt quá khoản đền bù mà người dân nhận được mới được xem xét cho phép ghi nợ, giảm bớt gánh nặng tài chính ban đầu cho người dân khi nhận đất tái định cư.

Quy trình ghi nợ tiền sử dụng đất mới

Quy trình ghi nợ tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân được hưởng chính sách tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP đã được quy định chi tiết nhằm đảm bảo sự thống nhất và minh bạch trong thực hiện. Toàn bộ quá trình này liên quan đến sự phối hợp giữa người dân, Văn phòng Đăng ký đất đai (hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường), cơ quan thuế và Kho bạc Nhà nước. Các bước được thiết kế để đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp người dân dễ dàng tiếp cận và hoàn thành nghĩa vụ tài chính của mình theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất.

Các bước thực hiện ghi nợ

Để được ghi nợ tiền sử dụng đất khi nhận đất tái định cư, hộ gia đình, cá nhân cần tuân thủ trình tự gồm các bước cụ thể. Đầu tiên, người dân nộp hồ sơ đề nghị ghi nợ, bao gồm Đơn đề nghị ghi nợ, các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được ghi nợ, cùng với hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trong đó có Quyết định giao đất tái định cư và Phương án bồi thường, hỗ trợ). Hồ sơ này được nộp tại Văn phòng Đăng ký đất đai cấp huyện hoặc cơ quan tài nguyên và môi trường. Tiếp theo, Văn phòng sẽ rà soát, kiểm tra hồ sơ và lập Phiếu chuyển thông tin, trong đó có nêu rõ số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, gửi đến cơ quan thuế để tính toán nghĩa vụ tài chính. Đồng thời, Văn phòng sẽ trả Giấy hẹn cho người dân.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Căn cứ vào Phiếu chuyển thông tin, cơ quan thuế có trách nhiệm xác định tổng số tiền sử dụng đất phải nộp, số tiền không được ghi nợ (chính là số tiền bồi thường, hỗ trợ nhận được) và số tiền được ghi nợ. Cơ quan thuế ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất trong thời hạn không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày ban hành Thông báo, gửi đến người dân, Văn phòng và các cơ quan liên quan. Thông báo này ghi rõ các khoản tiền và thời hạn nộp tương ứng. Dựa trên Thông báo của cơ quan thuế, người dân nộp phần tiền không được ghi nợ tại Kho bạc Nhà nước hoặc đơn vị được Kho bạc ủy nhiệm thu và nộp chứng từ đã nộp tiền tại Văn phòng. Cuối cùng, Văn phòng Đăng ký đất đai sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, trong đó có ghi rõ số tiền sử dụng đất được ghi nợ và thời hạn phải thanh toán là 05 năm kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư.

Thời hạn trả nợ và tiền chậm nộp

Một điểm quan trọng trong quy định về ghi nợ tiền sử dụng đất tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP là thời hạn trả nợ và cách xử lý tiền chậm nộp. Theo đó, hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ có thời hạn 05 năm để trả dần số tiền sử dụng đất còn nợ, tính từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất tái định cư. Trong suốt thời hạn 05 năm này, người dân sẽ không phải nộp bất kỳ khoản tiền chậm nộp nào đối với số tiền còn nợ.

Tuy nhiên, nếu quá thời hạn 05 năm kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư mà hộ gia đình, cá nhân vẫn chưa thanh toán hết số tiền ghi nợ tiền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận, thì họ sẽ phải đối mặt với việc tính tiền chậm nộp. Số tiền chậm nộp này được tính trên số tiền còn nợ chưa thanh toán, áp dụng theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế. Thời điểm bắt đầu tính tiền chậm nộp là từ ngày hết thời hạn 05 năm được ghi nợ cho đến thời điểm người dân thực hiện việc trả nợ. Quy định này nhằm khuyến khích người dân hoàn thành nghĩa vụ tài chính trong thời hạn ưu đãi được miễn tiền chậm nộp.

Quy định về thanh toán và xóa nợ

Sau khi được ghi nợ tiền sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân có nghĩa vụ phải thực hiện việc thanh toán khoản nợ này theo đúng thời hạn quy định. Việc thanh toán nợ không chỉ là hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước mà còn là điều kiện để đảm bảo các quyền lợi liên quan đến quyền sử dụng đất của người dân, đặc biệt là trong các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất. Quy trình thanh toán và thủ tục xóa nợ cũng được Nghị định 79/2019/NĐ-CP quy định cụ thể, giúp người dân biết cách hoàn tất các thủ tục cần thiết để xác nhận đã hoàn thành nghĩa vụ nợ tiền sử dụng đất.

Thủ tục thanh toán và xóa nợ

Hộ gia đình, cá nhân đã được ghi nợ tiền sử dụng đất có thể thanh toán dần khoản nợ này trong thời hạn 05 năm tại Kho bạc Nhà nước hoặc đơn vị được Kho bạc ủy nhiệm thu. Việc thanh toán phải đảm bảo hoàn thành toàn bộ số tiền còn nợ khi hết thời hạn 05 năm kể từ ngày có quyết định giao đất tái định cư. Nếu người dân làm mất hoặc thất lạc Thông báo của cơ quan thuế, họ có thể đến cơ quan thuế để được cấp lại Thông báo.

Trường hợp quá thời hạn 05 năm mà chưa nộp đủ nợ, người dân cần đến cơ quan thuế để được xác định lại số tiền sử dụng đất còn nợ và tính thêm tiền chậm nộp. Cơ quan thuế sẽ ban hành Thông báo mới ngay trong ngày làm việc, trong đó ghi rõ số tiền còn nợ và tiền chậm nộp, cùng thời hạn nộp là 30 ngày kể từ ngày ghi trên Thông báo. Nếu quá thời hạn 30 ngày này mà vẫn chưa nộp hết, người dân lại phải tiếp tục đến cơ quan thuế để xác định lại số tiền nợ và tiền chậm nộp theo quy định. Sau khi đã hoàn thành việc thanh toán toàn bộ số tiền ghi nợ (bao gồm cả tiền chậm nộp nếu có), người dân nộp hồ sơ gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc và chứng từ nộp tiền (bản gốc) tại Văn phòng Đăng ký đất đai để được thực hiện thủ tục xóa nợ. Văn phòng có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu hồ sơ và thực hiện xóa nợ tiền sử dụng đất đã ghi trên Giấy chứng nhận ngay trong ngày làm việc, sau đó trả lại Giấy chứng nhận cho người dân.

Xử lý khi chuyển nhượng hoặc thừa kế đất còn nợ

Đối với quyền sử dụng đất đã được ghi nợ tiền sử dụng đất theo quy định của Nghị định 79/2019/NĐ-CP, pháp luật có những quy định chặt chẽ khi thực hiện các giao dịch liên quan. Cụ thể, hộ gia đình, cá nhân đã được ghi nợ phải thực hiện nghĩa vụ nộp đủ toàn bộ số tiền sử dụng đất còn nợ, kể cả tiền chậm nộp (nếu có), trước khi tiến hành các thủ tục pháp lý để chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất đó. Điều này nhằm đảm bảo nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước được hoàn thành trước khi quyền sử dụng đất thay đổi chủ thể hoặc được dùng làm tài sản đảm bảo.

Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định riêng cho trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất mà người để lại thừa kế vẫn còn nợ tiền sử dụng đất đã được ghi nợ. Trong tình huống này, người nhận thừa kế quyền sử dụng đất sẽ có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền sử dụng đất thay cho người đã mất, theo đúng quy định và thời hạn còn lại được ghi nợ, hoặc theo quy định về xử lý nợ quá hạn nếu thời hạn 05 năm đã hết.

Xử lý chuyển tiếp và hiệu lực thi hành

Nghị định 79/2019/NĐ-CP không chỉ quy định về thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất áp dụng từ thời điểm có hiệu lực, mà còn có các quy định về xử lý chuyển tiếp đối với các trường hợp đã được ghi nợ theo quy định của pháp luật trước đây. Những quy định này là cần thiết để đảm bảo tính liên tục và công bằng trong việc áp dụng pháp luật, xử lý các trường hợp ghi nợ phát sinh từ nhiều thời điểm khác nhau với các chính sách khác nhau. Việc nắm vững các quy định chuyển tiếp giúp người dân đang còn nợ tiền sử dụng đất xác định đúng nghĩa vụ và quyền lợi của mình theo pháp luật hiện hành.

Quy định cho các trường hợp ghi nợ trước đây

Đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân đã được ghi nợ tiền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật tại các thời kỳ khác nhau trước ngày Nghị định 79/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (ngày 10 tháng 12 năm 2019) mà đến nay vẫn chưa thanh toán hết nợ, Nghị định này đưa ra hướng xử lý cụ thể. Nếu khoản nợ được ghi nợ trước ngày 01 tháng 3 năm 2016, người dân tiếp tục thanh toán theo chính sách và giá đất tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận (hoặc theo số tiền đã ghi trên Giấy chứng nhận theo đúng quy định) cho đến hết ngày 28 tháng 02 năm 2021. Kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2021 trở đi, số tiền còn nợ sẽ được thanh toán theo chính sách và giá đất tại thời điểm thực tế trả nợ.

Trường hợp khoản nợ được ghi nợ tiền sử dụng đất trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 3 năm 2016 đến trước ngày Nghị định 79/2019/NĐ-CP có hiệu lực, người dân tiếp tục thanh toán theo số tiền đã ghi nợ trên Giấy chứng nhận (được xác định theo Nghị định 45/2014/NĐ-CP) trong thời hạn 05 năm kể từ ngày ghi nợ. Nếu quá thời hạn 05 năm này, số tiền còn nợ sẽ phải thanh toán theo chính sách và giá đất tại thời điểm trả nợ. Nghị định 79/2019/NĐ-CP cũng quy định rõ không áp dụng việc hỗ trợ giảm trừ 2%/năm khi thanh toán nợ trước hạn (trong thời hạn 05 năm) kể từ ngày Nghị định có hiệu lực.

Thời điểm có hiệu lực và bãi bỏ quy định cũ

Nghị định số 79/2019/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2019. Sự ra đời của Nghị định này đánh dấu một bước sửa đổi quan trọng trong các quy định về thu tiền sử dụng đất, đặc biệt là thủ tục ghi nợ cho đất tái định cư. Cùng với việc có hiệu lực, Nghị định 79/2019/NĐ-CP cũng đồng thời bãi bỏ hoàn toàn Điều 16 của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014. Điều này có nghĩa là các quy định về ghi nợ tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân khi được giao đất tái định cư sẽ được áp dụng thống nhất theo quy định mới tại Nghị định 79/2019/NĐ-CP kể từ ngày văn bản này có hiệu lực. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và người sử dụng đất đều có trách nhiệm thi hành Nghị định này, trong đó UBND cấp tỉnh/thành phố được giao nhiệm vụ rà soát và thông báo các trường hợp còn nợ để thực hiện việc thanh toán, xóa nợ theo đúng quy định mới.

Câu hỏi thường gặp về Nghị định 79/2019/NĐ-CP

Những đối tượng nào được ghi nợ tiền sử dụng đất theo Nghị định 79/2019/NĐ-CP?

Nghị định 79/2019/NĐ-CP quy định các đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất khi được giao đất tái định cư bao gồm người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ gia đình cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số, và hộ gia đình cá nhân có hộ khẩu thường trú tại địa bàn kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn. Việc xác định các đối tượng này cần căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành.

Thời hạn trả nợ tiền sử dụng đất được ghi nợ là bao lâu?

Thời hạn trả nợ tiền sử dụng đất được ghi nợ theo Nghị định 79/2019/NĐ-CP là 05 năm. Thời hạn này được tính kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất tái định cư cho hộ gia đình, cá nhân đó.

Nếu quá thời hạn 5 năm mà chưa trả hết nợ thì có bị tính tiền chậm nộp không?

Có. Nếu hộ gia đình, cá nhân chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất sau thời hạn 05 năm được ghi nợ, thì sẽ phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền còn nợ theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế. Tiền chậm nộp được tính từ thời điểm hết thời hạn 05 năm đến thời điểm trả nợ.

Cần làm gì để xóa nợ tiền sử dụng đất trên Giấy chứng nhận?

Sau khi đã hoàn thành việc thanh toán toàn bộ số tiền sử dụng đất còn nợ (bao gồm cả tiền chậm nộp nếu có), người dân nộp hồ sơ gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc và chứng từ nộp tiền bản gốc tại Văn phòng Đăng ký đất đai để được thực hiện thủ tục xóa nợ trên Giấy chứng nhận.

Có được bán, tặng cho đất khi vẫn còn nợ tiền sử dụng đất không?

Không. Theo quy định của Nghị định 79/2019/NĐ-CP, hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất phải nộp đủ tiền sử dụng đất còn nợ, tiền chậm nộp (nếu có) trước khi chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Tóm lại, Nghị định 79/2019/NĐ-CP đã làm rõ nhiều điểm quan trọng về ghi nợ tiền sử dụng đất cho các đối tượng ưu tiên khi được giao đất tái định cư, quy định chi tiết về thủ tục và thời hạn trả nợ. Việc nắm vững những quy định này giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời thực hiện đúng các thủ tục pháp luật liên quan đến đất đai. Edupace hy vọng bài viết này cung cấp những thông tin hữu ích và chính xác cho bạn đọc.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *