Bộ luật Dân sự 2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, là văn bản pháp luật quan trọng điều chỉnh các quan hệ dân sự tại Việt Nam. Thay thế Bộ luật Dân sự 2005, bộ luật mới mang đến nhiều quy định cập nhật, tiến bộ nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác.

Tổng quan về Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật Dân sự 2015, với số hiệu 91/2015/QH13, được Quốc hội ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho các quan hệ dân sự phát triển, phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội hiện đại và xu hướng hội nhập quốc tế. Phạm vi điều chỉnh của bộ luật rất rộng, bao gồm địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về ứng xử của cá nhân, pháp nhân, quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản trong các quan hệ được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm. Mục đích chính là ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của các chủ thể trong xã hội.

Mục đích và phạm vi điều chỉnh

Bộ luật Dân sự 2015 ra đời với mục tiêu cốt lõi là hoàn thiện hệ thống pháp luật về dân sự, củng cố các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự như bình đẳng, tự do cam kết, thiện chí, trung thực, không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Bộ luật điều chỉnh hầu hết các khía cạnh của đời sống dân sự, từ các vấn đề chung nhất như năng lực pháp luật, năng lực hành vi, pháp nhân, hộ gia đình, đến các chế định cụ thể về tài sản, sở hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng, thừa kế và quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc áp dụng bộ luật này nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển lành mạnh của các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự.

Những nguyên tắc cơ bản

Bộ luật dân sự mới tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc cơ bản chi phối mọi quan hệ dân sự. Sự bình đẳng giữa các chủ thể là nền tảng, không phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do nào. Các bên tham gia quan hệ dân sự hoàn toàn tự do và tự nguyện xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sở cam kết, thỏa thuận, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Nguyên tắc thiện chí và trung thực đòi hỏi các chủ thể phải hành động một cách chính trực, đáng tin cậy trong mọi giao dịch và ứng xử dân sự. Đồng thời, việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự phải luôn đảm bảo không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.

Quy định về Cá nhân và Pháp nhân trong Luật Dân sự 2015

Phần đầu của Bộ luật Dân sự 2015 dành các quy định chi tiết về địa vị pháp lý của cá nhân và pháp nhân, là hai nhóm chủ thể chính tham gia vào hầu hết các quan hệ dân sự. Bộ luật làm rõ các khái niệm về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, quyền nhân thân và các chế định liên quan như nơi cư trú, giám hộ, từ đó tạo cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền và nghĩa vụ của họ trong các giao dịch và quan hệ xã hội.

Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự

Bộ luật Dân sự 2015 quy định năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau, bắt đầu từ khi sinh ra và chấm dứt khi chết. Khác với năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi này phụ thuộc vào độ tuổi và tình trạng nhận thức của cá nhân, được phân loại thành người thành niên có năng lực hành vi đầy đủ (trừ các trường hợp bị hạn chế), người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quyết định của Tòa án. Các giao dịch dân sự của những người không có hoặc bị hạn chế năng lực hành vi được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Quyền nhân thân

Quyền nhân thân là các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Luật Dân sự 2015 quy định cụ thể các quyền nhân thân cơ bản như quyền có họ, tên (Điều 26), quyền thay đổi họ, tên (Điều 27, 28), quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29), quyền được khai sinh, khai tử (Điều 30), quyền về quốc tịch (Điều 31), quyền đối với hình ảnh (Điều 32), quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 33), quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34), quyền hiến, nhận mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 35). Bộ luật cũng bổ sung các quy định mới về quyền xác định lại giới tính (Điều 36) và chuyển đổi giới tính (Điều 37), thể hiện sự tiến bộ và tôn trọng quyền tự quyết của cá nhân.

Nơi cư trú và giám hộ

Nơi cư trú của cá nhân được xác định là nơi người đó thường xuyên sinh sống (Điều 40). Đối với người chưa thành niên hoặc người được giám hộ, nơi cư trú được xác định theo cha mẹ hoặc người giám hộ (Điều 41, 42). Giám hộ là chế định quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ về điều kiện của người giám hộ, các trường hợp có người giám hộ đương nhiên và việc cử, cử lại, thay đổi, chấm dứt giám hộ, cùng với quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ và việc quản lý tài sản của người được giám hộ. Các quy định này nhằm đảm bảo người được giám hộ được chăm sóc, nuôi dưỡng và quyền lợi của họ được bảo vệ một cách tốt nhất.

Pháp nhân và các loại pháp nhân

Pháp nhân là một tổ chức được pháp luật thừa nhận có tư cách chủ thể tham gia quan hệ dân sự một cách độc lập. Để được công nhận là pháp nhân, một tổ chức cần đáp ứng các điều kiện như được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập bằng tên gọi của mình. Bộ luật Dân sự 2015 phân loại pháp nhân thành pháp nhân thương mại (mục tiêu chính là lợi nhuận, bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác) và pháp nhân phi thương mại (mục tiêu không phải là lợi nhuận, bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, v.v.). Bộ luật cũng quy định về điều lệ, tên gọi, trụ sở, quốc tịch, tài sản, việc thành lập, đăng ký, cơ cấu tổ chức, chi nhánh, văn phòng đại diện, đại diện và trách nhiệm dân sự của pháp nhân.

Chế độ Sở hữu và các Quyền khác đối với tài sản

Quyền sở hữu là một trong những chế định trung tâm của pháp luật dân sự, được Bộ luật Dân sự 2015 quy định chi tiết bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Bộ luật cũng giới thiệu và quy định các quyền khác đối với tài sản thuộc sở hữu của chủ thể khác, tạo ra sự đa dạng và linh hoạt trong việc khai thác giá trị của tài sản.

Xác lập và thực hiện quyền sở hữu

Quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản được xác lập dựa trên nhiều căn cứ khác nhau như lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp, chuyển giao quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền, thu hoa lợi, lợi tức, tạo vật mới, thừa kế, hoặc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu. Luật Dân sự 2015 khẳng định nguyên tắc mọi chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái pháp luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng xấu đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Các hình thức sở hữu

Bộ luật Dân sự 2015 quy định các hình thức sở hữu chính bao gồm sở hữu toàn dân (tài sản thuộc về toàn thể Nhân dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý), sở hữu riêng (của cá nhân hoặc pháp nhân) và sở hữu chung (của nhiều chủ sở hữu đối với một tài sản). Sở hữu chung lại được phân loại thành sở hữu chung theo phần (xác định rõ phần quyền sở hữu của mỗi chủ thể) và sở hữu chung hợp nhất (không xác định rõ phần quyền sở hữu, thường gặp trong quan hệ hôn nhân và gia đình, hoặc sở hữu chung của cộng đồng, nhà chung cư). Bộ luật quy định chi tiết về việc xác lập, quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc các hình thức sở hữu này, đặc biệt là đối với tài sản thuộc sở hữu chung, nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu được thực hiện một cách hài hòa và công bằng.

Chấm dứt quyền sở hữu

Quyền sở hữu có thể chấm dứt dựa trên nhiều căn cứ khác nhau như chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác, chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu, tài sản bị tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy, tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tài sản bị trưng mua hoặc bị tịch thu, hoặc khi các chủ thể khác đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của bộ luật (ví dụ: xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị đánh rơi, gia súc, gia cầm, thủy sản thất lạc, xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu).

Các quyền khác đối với tài sản

Ngoài quyền sở hữu, Bộ luật Dân sự 2015 quy định ba quyền khác đối với tài sản thuộc sở hữu của chủ thể khác, bao gồm:

  1. Quyền đối với bất động sản liền kề: Đây là quyền được thực hiện trên một bất động sản (bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc sở hữu của người khác (bất động sản hưởng quyền). Các quy định về quyền thoát nước, quyền cấp, thoát nước qua bất động sản liền kề, quyền về lối đi qua bất động sản liền kề, quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc qua bất động sản khác đều thuộc phạm vi này.
  2. Quyền hưởng dụng: Là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định. Quyền này thường được xác lập theo thỏa thuận hoặc theo di chúc, có thể chuyển giao cho người khác.
  3. Quyền bề mặt: Là quyền của chủ thể được khai thác, sử dụng mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất thuộc về chủ thể khác để xây dựng công trình, trồng cây, canh tác. Chủ thể có quyền bề mặt có quyền sở hữu đối với tài sản được tạo lập trên cơ sở quyền này.

Giao dịch dân sự và Hợp đồng

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự phổ biến nhất, thể hiện sự thỏa thuận giữa các bên. Bộ luật Dân sự 2015 quy định chi tiết về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, các loại giao dịch vô hiệu, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Đối với hợp đồng, bộ luật tập trung vào các quy định về giao kết, hiệu lực, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt và các loại hợp đồng thông dụng.

Giao dịch dân sự và điều kiện có hiệu lực

Để một giao dịch dân sự có hiệu lực, nó phải đáp ứng các điều kiện cơ bản về chủ thể (có năng lực pháp luật và năng lực hành vi phù hợp), ý chí (tự nguyện), mục đích và nội dung (không trái pháp luật, đạo đức xã hội), và hình thức (tuân thủ quy định pháp luật về hình thức trong trường hợp luật có quy định). Luật Dân sự 2015 làm rõ các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có hiệu lực như vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, vô hiệu do giả tạo, vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện, vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

Các loại hợp đồng thông dụng

Bộ luật Dân sự 2015 quy định chi tiết về các loại hợp đồng thông dụng như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng trao đổi tài sản, hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng vay tài sản, hợp đồng thuê tài sản (bao gồm thuê khoán), hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng về quyền sử dụng đất, hợp đồng hợp tác, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng vận chuyển (hành khách, tài sản), hợp đồng gia công, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng ủy quyền. Mỗi loại hợp đồng này có những đặc thù riêng về đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên, và cách thức thực hiện, được quy định cụ thể trong các điều khoản tương ứng của bộ luật.

Chế định hợp đồng

Bộ luật quy định quy trình giao kết hợp đồng thông qua đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị. Thời điểm giao kết và hiệu lực của hợp đồng được xác định rõ tùy thuộc vào hình thức (bằng lời nói, văn bản, hoặc hành vi cụ thể). Về thực hiện hợp đồng, bộ luật nêu rõ nguyên tắc thực hiện đúng thỏa thuận, đúng đối tượng, đúng thời gian, địa điểm, phương thức. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp, cầm giữ tài sản được quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của bên có quyền. Việc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng có thể xảy ra theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật, đặc biệt trong trường hợp hợp đồng bị vi phạm nghiêm trọng hoặc hoàn cảnh cơ bản thay đổi.

Nghĩa vụ dân sự và Trách nhiệm dân sự

Chương này của Bộ luật Dân sự 2015 đề cập đến các nghĩa vụ phát sinh giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự, căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ, cách thức thực hiện và chấm dứt nghĩa vụ. Đồng thời, bộ luật quy định về trách nhiệm dân sự khi một bên vi phạm nghĩa vụ của mình, bao gồm trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Căn cứ phát sinh nghĩa vụ

Nghĩa vụ dân sự là quan hệ pháp luật, trong đó một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao tài sản, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền). Nghĩa vụ phát sinh từ nhiều căn cứ khác nhau như hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương, thực hiện công việc không có ủy quyền, chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, hoặc các căn cứ khác theo quy định của pháp luật.

Thực hiện nghĩa vụ và biện pháp bảo đảm

Việc thực hiện nghĩa vụ phải tuân thủ các nguyên tắc về địa điểm, thời hạn, phương thức, đảm bảo đúng đối tượng, chất lượng, số lượng như đã thỏa thuận hoặc quy định. Bộ luật cũng cho phép thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba khi có sự đồng ý của bên có quyền. Để tăng cường khả năng bên có quyền nhận được lợi ích từ nghĩa vụ, Luật Dân sự 2015 quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như đã nêu ở phần hợp đồng. Các biện pháp này tạo cơ sở pháp lý cho bên có quyền được ưu tiên thanh toán từ tài sản bảo đảm khi bên có nghĩa vụ vi phạm hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.

Chấm dứt nghĩa vụ

Nghĩa vụ dân sự có thể chấm dứt vì nhiều lý do, trong đó phổ biến nhất là nghĩa vụ đã được hoàn thành. Các căn cứ khác bao gồm các bên thỏa thuận chấm dứt, bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ, nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác, nghĩa vụ được bù trừ, bên có quyền và bên có nghĩa vụ sáp nhập. Ngoài ra, nghĩa vụ cũng chấm dứt khi thời hiệu miễn việc thực hiện nghĩa vụ dân sự hết, người có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện, vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác, hoặc trong trường hợp phá sản theo quy định của Luật Phá sản.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Đây là trách nhiệm dân sự phát sinh khi có thiệt hại xảy ra mà không dựa trên cơ sở một hợp đồng đã ký kết. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là hành vi trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) và gây thiệt hại. Thiệt hại phải là thiệt hại thực tế, bao gồm thiệt hại về tài sản, thiệt hại do xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, và thiệt hại khác theo quy định của pháp luật. Bộ luật Dân sự 2015 quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ và kịp thời, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Bộ luật cũng quy định về bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể như do người dùng chất kích thích gây ra, do người của pháp nhân gây ra, do người thi hành công vụ, do người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi gây ra khi đang dưới sự giám sát của trường học, bệnh viện hoặc tổ chức khác, do người lao động, người học nghề gây ra, do nguồn nguy hiểm cao độ, do ô nhiễm môi trường, do súc vật, do cây cối, do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, do xâm phạm thi thể, mồ mả, do xâm phạm lợi ích người tiêu dùng.

Thừa kế theo Di chúc và theo Pháp luật

Chế định thừa kế quy định việc chuyển giao tài sản của người đã chết cho người khác theo ý chí của người đó được thể hiện trong di chúc hoặc theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định. Bộ luật Dân sự 2015 phân biệt rõ hai hình thức thừa kế này và quy định chi tiết các vấn đề liên quan.

Quy định chung về thừa kế

Quyền thừa kế của cá nhân, pháp nhân được pháp luật bảo đảm. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Bộ luật quy định về người thừa kế (phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra sau thời điểm mở thừa kế và còn sống vào thời điểm thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết; pháp nhân phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế), thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, quản lý di sản, và từ chối nhận di sản. Bộ luật cũng quy định những người không được quyền hưởng di sản.

Thừa kế theo di chúc

Thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo sự định đoạt của người đó trong di chúc. Luật Dân sự 2015 quy định về các hình thức của di chúc (miệng, văn bản không có người làm chứng, có người làm chứng, có công chứng, chứng thực), điều kiện để di chúc hợp pháp, nội dung di chúc, người làm chứng di chúc, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc, giữ bí mật di chúc. Bộ luật cũng có quy định về hiệu lực pháp luật của di chúc và đặc biệt là quy định về “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” (nhằm bảo vệ quyền lợi của một số đối tượng đặc biệt như con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên nhưng mất năng lực lao động, ngay cả khi họ không được hoặc được hưởng ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật).

Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật áp dụng khi không có di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Bộ luật Dân sự 2015 quy định ba hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên: hàng thứ nhất (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi), hàng thứ hai (ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại), hàng thứ ba (cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại). Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Bộ luật cũng quy định về thừa kế thế vị (cháu hưởng phần di sản của cha/mẹ đã chết) và quan hệ thừa kế giữa con nuôi – cha mẹ nuôi, con riêng – bố dượng, mẹ kế.

Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Đây là một phần quan trọng của Bộ luật Dân sự 2015, quy định việc áp dụng pháp luật trong trường hợp quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; hoặc các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài; hoặc các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.

Xác định pháp luật áp dụng

Bộ luật Dân sự 2015 đưa ra các nguyên tắc và quy phạm xung đột để xác định pháp luật áp dụng cho các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc chung là áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc pháp luật Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam quy định các bên có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng, thì pháp luật được áp dụng là pháp luật do các bên lựa chọn. Nếu không xác định được pháp luật áp dụng theo hai căn cứ trên, pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó. Bộ luật cũng quy định rõ các trường hợp không áp dụng pháp luật nước ngoài (khi hậu quả áp dụng trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam hoặc nội dung pháp luật nước ngoài không xác định được) và cách xử lý khi pháp luật được dẫn chiếu là pháp luật của nước có nhiều hệ thống pháp luật. Các quy định cụ thể về pháp luật áp dụng cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài, quan hệ tài sản (phân loại tài sản, quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, thừa kế, di chúc), quan hệ nhân thân (giám hộ), hợp đồng, hành vi pháp lý đơn phương, nghĩa vụ hoàn trả tài sản do chiếm hữu, sử dụng, được lợi không có căn cứ pháp luật, thực hiện công việc không có ủy quyền và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng được nêu rõ.

Các câu hỏi thường gặp

Phần này giải đáp một số thắc mắc phổ biến về Bộ luật Dân sự 2015 để giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định chính.

  • Hỏi: Mục đích chính của Bộ luật Dân sự 2015 là gì?
    • Đáp: Mục đích chính là ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, tạo cơ sở pháp lý cho các quan hệ dân sự phát triển ổn định trên nguyên tắc bình đẳng, tự do ý chí, thiện chí, trung thực.
  • Hỏi: Những điểm mới nổi bật của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 là gì?
    • Đáp: Có nhiều điểm mới, bao gồm bổ sung quy định về quyền nhân thân như quyền xác định lại giới tính, chuyển đổi giới tính; làm rõ các chế định về pháp nhân, tài sản, quyền sở hữu, đặc biệt là bổ sung các quyền khác đối với tài sản (quyền bề mặt, quyền hưởng dụng); hoàn thiện quy định về giao dịch dân sự vô hiệu, thời hiệu; làm rõ căn cứ và phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; cập nhật các quy định về thừa kế và quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phù hợp với bối cảnh hiện tại.
  • Hỏi: Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực từ khi nào?
    • Đáp: Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
  • Hỏi: Theo Bộ luật Dân sự 2015, ai được coi là người thừa kế theo pháp luật?
    • Đáp: Người thừa kế theo pháp luật được xếp thành ba hàng thừa kế: hàng thứ nhất (vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi), hàng thứ hai (ông bà nội, ông bà ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là ông bà), hàng thứ ba (cụ nội, cụ ngoại, bác chú cậu cô dì ruột, cháu ruột mà người chết là bác chú cậu cô dì, chắt của người chết mà người chết là cụ). Những người cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
  • Hỏi: Người nước ngoài có thể sở hữu bất động sản tại Việt Nam theo Bộ luật Dân sự 2015 không?
    • Đáp: Bộ luật Dân sự 2015 quy định chung về quyền sở hữu và quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Việc người nước ngoài được sở hữu bất động sản tại Việt Nam được điều chỉnh cụ thể hơn bởi các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở và các văn bản hướng dẫn. Theo các quy định này, người nước ngoài (trong một số trường hợp cụ thể và có điều kiện) có thể được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Như vậy, Bộ luật Dân sự 2015 là một văn bản pháp luật đồ sộ và quan trọng, đóng vai trò nền tảng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự. Việc tìm hiểu và nắm vững các quy định của bộ luật này là cần thiết đối với mọi cá nhân và tổ chức tham gia vào các quan hệ dân sự. Hy vọng bài viết này trên Edupace đã cung cấp những thông tin hữu ích về các điểm nổi bật của Bộ luật Dân sự 2015.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *