Việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt, đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII ra đời là một bước ngoặt quan trọng, thẳng thắn chỉ ra những vấn đề còn tồn tại trong công tác này. Nghị quyết tập trung vào việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cùng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, thể hiện quyết tâm cao của Đảng.

Bối cảnh ra đời Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII

Nghị quyết 04-NQ/TW được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành vào ngày 30 tháng 10 năm 2016. Sự ra đời của Nghị quyết này xuất phát từ yêu cầu cấp bách của công tác xây dựng Đảng trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp. Đảng ta nhận thấy cần tiếp tục đẩy mạnh, làm sâu sắc hơn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về xây dựng Đảng, nhưng với những nhận diện mới và giải pháp quyết liệt hơn để đối phó với những thách thức ngày càng gia tăng. Mục tiêu chính là tăng cường sức mạnh và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Thực trạng công tác xây dựng Đảng trước Nghị quyết

Trong suốt chiều dài lịch sử lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định bản lĩnh, giữ vững vai trò tiên phong, mang lại những thành tựu to lớn cho dân tộc, đặc biệt trong công cuộc đổi mới. Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn, Việt Nam đã đạt được sự phát triển kinh tế – xã hội ấn tượng, củng cố quốc phòng – an ninh, nâng cao vị thế trên trường quốc tế, và củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng tự hào, công tác xây dựng Đảng vẫn còn tồn tại không ít hạn chế và khuyết điểm cần nhìn thẳng vào sự thật. Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI, nhưng kết quả đạt được chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đề ra. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức Đảng còn thấp, có nơi thậm chí còn bị suy giảm nghiêm trọng. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng đôi khi còn hình thức, chưa đi vào chiều sâu.

Những vấn đề đáng báo động như tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống vẫn diễn biến phức tạp, thậm chí có mặt còn tinh vi hơn. Tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, đặc biệt tập trung ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có chức vụ. Tình trạng mất đoàn kết nội bộ không chỉ xảy ra ở cấp cơ sở mà còn xuất hiện ở cả một số cơ quan, đơn vị cấp cao. Việc đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch còn bị động và chưa thực sự hiệu quả.

Nguyên nhân dẫn đến suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

Tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Các yếu tố bên ngoài đã tác động không nhỏ, bao gồm ảnh hưởng từ sự biến động của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, những mặt trái không thể tránh khỏi của nền kinh tế thị trường, cùng với sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và quá trình toàn cầu hóa. Đặc biệt, các thế lực thù địch và phản động đã không ngừng đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng triệt để các vấn đề như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, cũng như những sơ hở, yếu kém và sự mất cảnh giác của chúng ta để xuyên tạc, chống phá cách mạng một cách ngày càng tinh vi.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Tuy nhiên, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII nhấn mạnh rằng nguyên nhân chủ quan mới là nguyên nhân sâu xa và chủ yếu. Trước hết, đó là sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của chính bản thân một bộ phận cán bộ, đảng viên. Lập trường tư tưởng của họ không vững vàng, dễ hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Họ sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, và không làm tròn trách nhiệm, bổn phận được giao.

Công tác giáo dục chính trị tư tưởng về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được coi trọng đúng mức, nội dung và phương pháp còn chậm đổi mới, kém hiệu quả. Nhận thức về tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn chưa thống nhất cao trong nội bộ. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu thiếu quyết tâm chính trị cao trong việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nương nhẹ, nể nang, thiếu kiên quyết. Thể chế, cơ chế, chính sách thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chậm được hoàn thiện, bộ máy tổ chức còn cồng kềnh, kém hiệu quả. Đặc biệt, cơ chế kiểm soát quyền lực còn nhiều sơ hở, thiếu cơ chế hữu hiệu để thay thế kịp thời cán bộ yếu kém. Công tác đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ, và các cơ chế, chính sách về cán bộ còn thiếu công bằng, chưa tạo động lực mạnh mẽ.

Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, tình trạng “nhẹ trên, nặng dưới” vẫn tồn tại. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng, tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, thiếu cơ chế bảo vệ người đấu tranh phê bình. Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử còn thiếu chặt chẽ, việc xử lý chưa đủ nghiêm minh. Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, việc kê khai tài sản còn hình thức.

Nhận diện chi tiết các Biểu hiện suy thoái

Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII đã nhận diện một cách chi tiết 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc nhận diện rõ ràng những biểu hiện này là bước đi quan trọng để cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng có cơ sở để “soi”, “sửa”, và đấu tranh hiệu quả.

Biểu hiện về tư tưởng chính trị

Một trong những biểu hiện đầu tiên và nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, dẫn đến dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Họ hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng, phụ họa theo những nhận thức và quan điểm lệch lạc, sai trái. Điều này thường đi kèm với việc nhận thức sai lệch về tầm quan trọng của lý luận chính trị, dẫn đến sự lười học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như các chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng.

Bên cạnh đó, nhiều cán bộ, đảng viên không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ sa sút ý chí phấn đấu, không còn thể hiện tính tiên phong, gương mẫu trong công tác. Những biểu hiện như né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả, không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân là những dấu hiệu rõ rệt của sự suy thoái. Trong công tác tự phê bình và phê bình, họ giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm, thiếu thành khẩn khi có sai lầm, hoặc nể nang, né tránh, ngại va chạm khi phê bình người khác. Đôi khi, phê bình còn bị lợi dụng cho mục đích cá nhân không trong sáng như nịnh bợ hoặc vu khống.

Một biểu hiện đáng chú ý khác là việc nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tình trạng nói không đi đôi với làm, hứa nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác, không nhất quán giữa lúc đương chức và khi nghỉ hưu cho thấy sự thiếu trung thực, thiếu nhất quán trong hành động. Tư duy duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, không chịu lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác cũng là một biểu hiện rõ nét. Những người này thường tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức, kén chọn vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, việc dễ, né tránh việc khó, thậm chí vận động, tranh thủ phiếu bầu một cách không lành mạnh. Tình trạng “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết vấn đề ngắn hạn có lợi cho mình, hoặc tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen dù không đủ tiêu chuẩn, bố trí vào vị trí nhiều lợi ích là những biểu hiện nguy hiểm, gây mất công bằng và làm suy yếu tổ chức.

Biểu hiện về đạo đức, lối sống

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống thường bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi. Những người này chỉ lo thu vén cho bản thân, không quan tâm đến lợi ích tập thể, thường ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình. Họ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ thông qua việc đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, cục bộ, bè phái, tranh chức, tranh quyền. Sự độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành cũng là những biểu hiện thường gặp.

Tình trạng kê khai tài sản, thu nhập không trung thực cho thấy sự thiếu minh bạch, che đậy những hành vi không trong sạch. Một bộ phận cán bộ, đảng viên mắc bệnh “thành tích”, háo danh, thích phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi, “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”. Biểu hiện quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát thực tế, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình. Sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng.

Những quyết định hoặc việc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên là một vấn đề nhức nhối. Đầu tư công tràn lan, kém hiệu quả, mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định, chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc, sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động đều là những biểu hiện của sự suy thoái về lối sống. Tình trạng tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cấu kết với doanh nghiệp hoặc đối tượng khác để trục lợi là hành vi đặc biệt nghiêm trọng. Thậm chí, còn tồn tại việc lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

Sự thao túng trong công tác cán bộ, chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội là những biểu hiện của sự suy đồi đạo đức nghiêm trọng, làm méo mó bộ máy tổ chức. Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi là hành vi không thể chấp nhận được. Cuối cùng, sa vào các tệ nạn xã hội như đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức bất hợp pháp, vi phạm thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội cũng là những biểu hiện suy thoái rõ nét.

Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là bước phát triển nguy hiểm hơn của sự suy thoái, có thể dẫn tới phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng. Một trong những biểu hiện cốt lõi là phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Họ đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”, phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Những biểu hiện này còn thể hiện ở việc nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Họ hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối ngay trong nội bộ, lợi dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn hướng tới việc phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an, xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, chia rẽ quân đội với công an, chia rẽ nhân dân với quân đội và công an. Nguy hiểm hơn cả là việc móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập, vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

Việc đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước cũng là một biểu hiện của “tự diễn biến”. Họ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật, tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng, cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, thổi phồng mặt trái của xã hội, sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng. Cuối cùng, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan, lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước là những biểu hiện nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị, xã hội.

Như vậy, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII đã thẳng thắn chỉ ra những vấn đề cốt lõi trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc nhận diện rõ ràng các biểu hiện và phân tích nguyên nhân giúp toàn Đảng, toàn dân thấy rõ nguy cơ và cùng chung tay đẩy lùi. Qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng một Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Edupace mong rằng thông tin này hữu ích cho bạn đọc.

Câu hỏi thường gặp (FAQs) về Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII

Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII là gì?

Đây là Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII, được ban hành năm 2016, tập trung vào việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Tại sao Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII lại được ban hành?

Nghị quyết ra đời trong bối cảnh công tác xây dựng Đảng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, thậm chí có mặt còn diễn biến phức tạp hơn. Tình hình này được Đảng nhận định là nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Nghị quyết nhận diện những loại suy thoái nào?

Nghị quyết nhận diện ba nhóm biểu hiện suy thoái chính: suy thoái về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống, và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được hiểu như thế nào trong Nghị quyết?

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là những biểu hiện biến đổi tiêu cực trong nhận thức, tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, từ chỗ suy thoái dần dẫn đến việc chống lại hoặc cấu kết với các thế lực thù địch để chống phá Đảng và Nhà nước. Đây được coi là bước ngắn, nguy hiểm khôn lường từ suy thoái.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng suy thoái là gì?

Nghị quyết xác định nguyên nhân sâu xa, chủ yếu là do sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của bản thân cán bộ, đảng viên; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ; cùng với những hạn chế trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng, công tác cán bộ và quản lý cán bộ, và cơ chế kiểm soát quyền lực.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *