Ngày 6/6/2025, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 128/2025/NĐ-CP, một văn bản pháp lý quan trọng đánh dấu bước tiến mạnh mẽ trong công cuộc cải cách hành chính. Nghị định 128/2025/NĐ-CP cụ thể hóa việc phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước lĩnh vực nội vụ, hướng tới nâng cao hiệu quả, tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền các cấp.
Tổng quan về Nghị định 128 và các nguyên tắc
Giới thiệu chung về Nghị định 128/2025/NĐ-CP
Nghị định 128/2025/NĐ-CP được ban hành nhằm triển khai các quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị quyết số 190/2025/QH15 của Quốc hội về việc sắp xếp bộ máy nhà nước. Văn bản này tập trung quy định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực nội vụ đã được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị quyết và nghị định khác nhưng cần được điều chỉnh để thực hiện chủ trương phân quyền, phân cấp. Việc này không chỉ giúp bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn mà còn tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp khi giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến nội vụ.
Những nguyên tắc quan trọng trong phân quyền, phân cấp
Việc phân quyền, phân cấp theo Nghị định 128/2025/NĐ-CP tuân thủ nhiều nguyên tắc cốt lõi. Trước hết, các quy định phải phù hợp với Hiến pháp và các nguyên tắc về phân quyền, phân cấp đã được nêu trong Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Mục tiêu là đảm bảo phân cấp triệt để các nhiệm vụ từ cơ quan trung ương xuống chính quyền địa phương, đồng thời vẫn duy trì sự quản lý thống nhất của Chính phủ và quyền điều hành của Thủ tướng Chính phủ. Các cơ quan trung ương sẽ tập trung vào vai trò quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát.
Nghị định đặc biệt nhấn mạnh việc phân định rõ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, đảm bảo phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn và năng lực thực tế. Nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được Bộ trưởng Bộ Nội vụ giao nhiệm vụ, họ có thể tiếp tục giao cho cấp dưới thực hiện. Các nguyên tắc khác bao gồm phân quyền, phân cấp đồng bộ, tổng thể giữa các ngành, lĩnh vực liên quan để tránh chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ; đảm bảo quyền con người, quyền công dân, tính công khai, minh bạch; tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức; và không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các điều ước quốc tế. Nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ được phân quyền, phân cấp sẽ do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định hiện hành.
Hướng dẫn về thu, nộp phí và lệ phí
Đối với các thủ tục hành chính được phân quyền, phân cấp theo Nghị định 128/2025/NĐ-CP mà yêu cầu nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí, người dân và tổ chức sẽ thực hiện việc nộp này trực tiếp cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Mức phí, lệ phí áp dụng, cũng như quy định về quản lý và sử dụng nguồn thu này, sẽ tuân thủ theo các văn bản hiện hành của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tùy thuộc vào từng loại phí, lệ phí cụ thể. Quy định này nhằm đơn giản hóa quy trình và tạo sự minh bạch trong việc thu, nộp các khoản tài chính liên quan đến thủ tục hành chính.
Phân cấp trong công tác người có công với cách mạng
Phân quyền xác định người có công và kinh phí thực hiện
Nghị định 128/2025/NĐ-CP đã phân quyền cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý cơ quan, tổ chức, đơn vị có người hy sinh, bị thương thực hiện nhiệm vụ tổ chức phát động học tập tấm gương để làm căn cứ công nhận liệt sĩ, thương binh. Quy định này cụ thể hóa các điểm k khoản 1 Điều 14 và điểm k khoản 1 Điều 23 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Việc phân quyền này giúp việc xác định và công nhận người có công được thực hiện bởi cấp quản lý trực tiếp, đảm bảo tính kịp thời và chính xác.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Giải Đáp 13h Hà Lan Là Mấy Giờ Việt Nam Chi Tiết
- Giải Mã Nằm Mơ Thấy Rụng Nhiều Răng Không Chảy Máu Chính Xác
- Luận giải tử vi tuổi Giáp Tuất nam mạng 2018
- Tò He: Nét Đẹp Đồ Chơi Truyền Thống Việt Nam Đậm Đà
- Mơ Thấy Chùm Nho Xanh Đánh Con Gì? Giải Mã Giấc Mơ
Về kinh phí thực hiện chính sách chế độ ưu đãi người có công trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Nghị định quy định nguồn ngân sách trung ương sẽ bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao trách nhiệm thực hiện quản lý, sử dụng và quyết toán nguồn kinh phí này theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Sự phân cấp này nhằm tăng cường tính chủ động cho địa phương trong việc quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực được giao để thực hiện các chế độ, chính sách đối với người có công trên địa bàn.
Thẩm quyền quản lý cơ sở nuôi dưỡng, nghĩa trang liệt sĩ
Đối với nhiệm vụ quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và chính sách, chế độ đối với cơ sở xã hội nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công và bộ phận quản lý nghĩa trang liệt sĩ, Nghị định 128/2025/NĐ-CP cũng có sự phân quyền rõ ràng. Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ thực hiện đối với các cơ sở do Bộ quản lý, trong khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ chịu trách nhiệm đối với các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công và bộ phận quản lý nghĩa trang liệt sĩ thuộc phạm vi quản lý của cấp tỉnh. Quy định này dựa trên khoản 6 Điều 48 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, đảm bảo thẩm quyền quản lý được giao cho cấp phù hợp.
Phân cấp quy định số người làm việc tại các cơ sở
Về việc quy định số người làm việc tại các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công, Nghị định phân cấp thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ đối với các cơ sở thuộc Bộ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với các cơ sở thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tương tự, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng được giao nhiệm vụ quy định số người làm việc tại bộ phận quản lý nghĩa trang liệt sĩ an táng từ 500 mộ liệt sĩ trở lên và số người chăm sóc cho nghĩa trang liệt sĩ an táng dưới 500 mộ liệt sĩ thuộc địa bàn quản lý. Các quy định này cụ thể hóa Điều 134 và Điều 136 của Nghị định số 131/2021/NĐ-CP, giao quyền quyết định nhân sự cho cấp quản lý trực tiếp.
Thẩm quyền chi ngân sách cho các công trình người có công
Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định việc phân cấp nhiệm vụ chi cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, bảo trì đài tưởng niệm liệt sĩ, đền thờ liệt sĩ, nhà bia ghi tên liệt sĩ từ nguồn ngân sách trung ương hỗ trợ. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ thực hiện nhiệm vụ chi đối với các công trình cấp tỉnh có mức hỗ trợ từ 10 tỷ đồng đến 15 tỷ đồng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được phân cấp nhiệm vụ chi đối với các công trình cấp xã có mức hỗ trợ dưới 10 tỷ đồng. Sự phân cấp này, dựa trên khoản 3 Điều 11 của Nghị định số 75/2021/NĐ-CP, giúp việc quản lý và sử dụng nguồn ngân sách cho các công trình tri ân người có công được thực hiện gần gũi với thực tế tại địa phương.
Tiếp nhận trường hợp đặc biệt và phê duyệt kế hoạch
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn trong việc xem xét, quyết định tiếp nhận các trường hợp đặc biệt vào các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công do cấp tỉnh quản lý. Quy định này dựa trên Điều 112 của Nghị định số 131/2021/NĐ-CP, cho phép địa phương chủ động xử lý các trường hợp cần sự hỗ trợ đặc biệt. Bên cạnh đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch, dự toán kinh phí lấy mẫu hài cốt liệt sĩ theo quy định tại Điều 147 của Nghị định số 131/2021/NĐ-CP, đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xác định danh tính liệt sĩ.
Trách nhiệm của Sở Nội vụ theo phân cấp
Sở Nội vụ cấp tỉnh được phân cấp nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan đến công tác người có công theo quy định tại Nghị định số 131/2021/NĐ-CP. Cụ thể, Sở có trách nhiệm tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ khám, giám định lại tỷ lệ tổn thương cơ thể và điều chỉnh chế độ; thẩm định hồ sơ công nhận người bị thương không thuộc quân đội, công an; thực hiện chi trả chế độ với thân nhân và đối tượng thực hiện xác định danh tính hài cốt liệt sỹ bằng phương pháp thực chứng; và thông báo kết quả quá trình giám định ADN. Việc phân cấp cho Sở Nội vụ giúp các thủ tục này được xử lý tập trung tại một cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đảm bảo tính chuyên nghiệp và hiệu quả.
Quy trình thực hiện các nhiệm vụ cụ thể
Nghị định 128/2025/NĐ-CP cũng quy định chi tiết trình tự, thủ tục thực hiện một số nhiệm vụ đã được phân cấp. Chẳng hạn, quy trình quy định số người làm việc tại các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công và nghĩa trang liệt sĩ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý bao gồm các bước từ đề xuất của Sở Nội vụ, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, ban hành quyết định, đến việc hướng dẫn tuyển dụng, sử dụng người làm việc. Trình tự tiếp nhận trường hợp đặc biệt vào các cơ sở nuôi dưỡng cũng được quy định, với việc Sở Nội vụ lập danh sách và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Các quy trình này nhằm đảm bảo sự minh bạch, thống nhất và hiệu quả trong quá trình triển khai các nhiệm vụ được phân cấp.
Đối với công tác lấy mẫu hài cốt liệt sĩ, Nghị định mô tả chi tiết trình tự thực hiện cho từng trường hợp cụ thể như đón nhận hài cốt quy tập chưa xác định danh tính, di chuyển hoặc nâng cấp nghĩa trang, hoặc theo đề nghị giám định ADN của thân nhân. Quy trình này phân định rõ trách nhiệm của Sở Nội vụ nơi đón nhận/quản lý mộ và Sở Nội vụ nơi quản lý hồ sơ gốc, cũng như vai trò của đơn vị giám định ADN và sự phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Sở Tài chính đối với kế hoạch, dự toán kinh phí. Việc quy định chi tiết này giúp các cơ quan thực hiện nhiệm vụ được phân cấp một cách rõ ràng và hiệu quả.
Phân cấp quản lý nhà nước về chính quyền địa phương
Công nhận vùng an toàn khu cấp trung ương
Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn về quyết định công nhận vùng an toàn khu thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đây là quy định dựa trên điểm đ khoản 6 Điều 2 của Nghị định số 25/2025/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ. Trình tự, thủ tục đề nghị công nhận vùng an toàn khu được nêu rõ, bắt đầu từ việc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập hồ sơ báo cáo Ban Thường vụ Đảng bộ cấp tỉnh, sau đó có văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ xem xét. Hồ sơ cần đảm bảo đầy đủ các thông tin lịch sử, địa lý, sự kiện cách mạng, di tích lịch sử và các tài liệu, tư liệu liên quan.
Công nhận xã an toàn khu và xã đảo cấp tỉnh
Nhiệm vụ, quyền hạn về công nhận xã an toàn khu và xã đảo được Nghị định 128/2025/NĐ-CP phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định này cũng dựa trên điểm đ khoản 6 Điều 2 của Nghị định số 25/2025/NĐ-CP. Việc phân cấp cho cấp tỉnh giúp quá trình xem xét và quyết định công nhận các đơn vị hành chính đặc thù này được thực hiện nhanh chóng và phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
Trình tự, thủ tục đề nghị công nhận xã an toàn khu bao gồm việc Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ báo cáo Ban Thường vụ Đảng bộ cấp xã, sau đó có tờ trình đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công nhận và gửi Sở Nội vụ thẩm định. Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để thẩm định hồ sơ trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Hồ sơ cần có đầy đủ các tài liệu chứng minh xã đáp ứng tiêu chí theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Đối với việc công nhận xã đảo, trình tự, thủ tục tương tự cũng bắt đầu từ Ủy ban nhân dân cấp xã lập hồ sơ (gồm tờ trình, báo cáo tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, tài liệu chứng minh đủ tiêu chí) trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và gửi Sở Nội vụ thẩm định. Sở Nội vụ tiếp nhận, thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Các quy định chi tiết về hồ sơ và thủ tục giúp các cấp chính quyền địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ được phân cấp một cách bài bản.
Phân cấp trong lĩnh vực lao động và tiền lương
Quản lý lao động, tiền lương chung
Trong lĩnh vực nội vụ liên quan đến lao động và tiền lương áp dụng với người sử dụng lao động và người lao động làm việc theo hợp đồng, Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định một số nhiệm vụ phân quyền. Thủ tướng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Hội đồng tiền lương quốc gia theo khoản 3 Điều 92 của Bộ luật Lao động.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ được phân quyền nhiệm vụ thông báo cụ thể ngày nghỉ lễ, tết hằng năm theo quy định tại khoản 3 Điều 112 của Bộ luật Lao động, áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Sự phân quyền này nhằm đảm bảo tính thống nhất và kịp thời trong việc thông báo lịch nghỉ lễ, tết cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của nhà nước.
Xác định chuyên gia và cấp phép lao động nước ngoài
Nghị định 128/2025/NĐ-CP phân cấp nhiều nhiệm vụ quan trọng liên quan đến quản lý người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thẩm quyền này bao gồm việc xác định chuyên gia là người lao động nước ngoài theo điểm c khoản 3 Điều 3 của Nghị định số 152/2020/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung. Bên cạnh đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người lao động dự kiến làm việc cũng được phân cấp thẩm quyền chấp thuận nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài; xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động; cấp, cấp lại, gia hạn và thu hồi giấy phép lao động. Việc phân cấp này dựa trên điểm a, điểm b khoản 1 Điều 30 của Nghị định số 152/2020/NĐ-CP, giúp thủ tục liên quan đến lao động nước ngoài được giải quyết tại địa phương nơi họ làm việc, giảm tải cho các cơ quan trung ương.
Trình tự, thủ tục xác định chuyên gia
Đối với nhiệm vụ xác định chuyên gia là người lao động nước ngoài được phân cấp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định trình tự, thủ tục cụ thể. Khi tiếp nhận hồ sơ cấp giấy phép lao động có trường hợp đặc biệt cần xác định chuyên gia, Sở Nội vụ có trách nhiệm đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ thông báo quyết định áp dụng trường hợp đặc biệt cho chuyên gia là lao động nước ngoài. Quy định chi tiết này giúp đảm bảo quy trình xử lý các trường hợp đặc biệt được thực hiện nhanh chóng và đúng thẩm quyền đã phân cấp.
Quy định về an toàn, vệ sinh lao động
Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã
Trong lĩnh vực nội vụ liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động, Nghị định 128/2025/NĐ-CP phân quyền một số nhiệm vụ, quyền hạn cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Các nhiệm vụ này bao gồm tiếp nhận thông báo của người lao động về nguy cơ mất an toàn lao động tại nơi làm việc trên địa bàn để kịp thời ngăn chặn; nhận thông báo của người sử dụng lao động khi xảy ra sự cố nghiêm trọng, ứng cứu khẩn cấp; và chủ động ứng phó ngay khi xảy ra sự cố kỹ thuật nghiêm trọng liên quan đến nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh tại địa phương, đồng thời kịp thời báo cáo Sở Nội vụ. Việc phân quyền này dựa trên Điều 6 và Điều 19 của Luật An toàn, vệ sinh lao động, giao trách nhiệm xử lý các vấn đề an toàn lao động ở cấp cơ sở, nơi gần gũi nhất với hiện trường và người lao động.
Quy trình xử lý thông báo an toàn lao động
Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định rõ trình tự, thủ tục thực hiện các nhiệm vụ về an toàn, vệ sinh lao động được phân quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi nhận được thông báo từ người lao động hoặc người sử dụng lao động về nguy cơ hoặc sự cố mất an toàn lao động, Ủy ban nhân dân cấp xã phải kịp thời bố trí nhân sự và thực hiện các biện pháp kỹ thuật phù hợp để ngăn chặn hoặc ứng cứu khẩn cấp. Trường hợp vượt quá thẩm quyền xử lý, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo với Sở Nội vụ và đề nghị hỗ trợ kỹ thuật từ các cơ quan, tổ chức chuyên môn phù hợp trên địa bàn. Quy trình này nhằm đảm bảo các vấn đề an toàn lao động được xử lý nhanh chóng và hiệu quả ngay từ cấp cơ sở.
Phân cấp quản lý người lao động Việt Nam ở nước ngoài theo hợp đồng
Nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Đối với lĩnh vực nội vụ liên quan đến người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Nghị định 128/2025/NĐ-CP phân quyền nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Các nhiệm vụ này bao gồm nhận và ban hành văn bản chấp thuận chuẩn bị nguồn lao động cho doanh nghiệp dịch vụ; nhận báo cáo và trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài; nhận báo cáo sau khi doanh nghiệp hoàn thành hợp đồng ở nước ngoài và yêu cầu báo cáo đột xuất; nhận báo cáo và trả lời bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu tư ra nước ngoài; và nhận, trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp thực hiện đăng ký đưa người lao động đi đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề ở nước ngoài có thời gian từ 90 ngày trở lên.
Việc phân quyền này giúp quản lý hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được thực hiện tại cấp tỉnh, nơi doanh nghiệp có trụ sở chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục hành chính.
Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã
Bên cạnh các nhiệm vụ được phân quyền cho cấp tỉnh, Nghị định 128/2025/NĐ-CP cũng phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn về việc có văn bản xác nhận việc đăng ký hợp đồng lao động cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người lao động thường trú. Quy định này dựa trên khoản 3 Điều 50 của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Sự phân cấp đến cấp xã giúp người lao động có thể thực hiện thủ tục xác nhận hợp đồng lao động tại nơi cư trú, giảm bớt thời gian và chi phí đi lại.
Trình tự, thủ tục báo cáo của doanh nghiệp
Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện một số nhiệm vụ được phân quyền, phân cấp. Ví dụ, đối với nhiệm vụ báo cáo của doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài sau khi hoàn thành hợp đồng, Nghị định yêu cầu doanh nghiệp phải báo cáo bằng văn bản về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là 10 ngày sau ngày người lao động nhập cảnh về nước. Việc quy định rõ thời hạn và hình thức báo cáo giúp đảm bảo việc quản lý và theo dõi tình hình lao động Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện một cách kịp thời và hiệu quả. Ngoài ra, Nghị định cũng chi tiết các nhiệm vụ được phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Nghị định số 112/2021/NĐ-CP, bao gồm ban hành văn bản chấp thuận đăng ký hoạt động dịch vụ đưa người giúp việc gia đình ở nước ngoài, nhận và xác nhận danh sách người lao động giúp việc gia đình, và ban hành văn bản đề nghị trả tiền ký quỹ cho doanh nghiệp.
Cơ chế quản lý quỹ xã hội, quỹ từ thiện
Trong lĩnh vực nội vụ liên quan đến quỹ xã hội, quỹ từ thiện, Nghị định 128/2025/NĐ-CP phân cấp nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thẩm quyền này áp dụng đối với các quỹ hoạt động trong phạm vi cấp tỉnh, kể cả quỹ có tổ chức, cá nhân nước ngoài góp tài sản với công dân, tổ chức Việt Nam để thành lập và hoạt động trong phạm vi tỉnh, xã (trừ quỹ chỉ hoạt động trong phạm vi xã).
Các nhiệm vụ được phân cấp bao gồm cấp giấy phép thành lập và công nhận điều lệ quỹ; cho phép hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, đổi tên quỹ; đình chỉ có thời hạn hoạt động; cho phép quỹ hoạt động trở lại sau khi bị đình chỉ; công nhận quỹ đủ điều kiện hoạt động; công nhận thành viên Hội đồng quản lý quỹ; cấp lại giấy phép thành lập; công nhận sửa đổi, bổ sung điều lệ; mở rộng phạm vi hoạt động; và thu hồi giấy phép thành lập. Việc phân cấp này, dựa trên Điều 18 của Nghị định số 93/2019/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung, giúp việc quản lý và giám sát hoạt động của các quỹ được thực hiện hiệu quả hơn ở cấp địa phương.
Đẩy mạnh bình đẳng giới thông qua phân quyền
Nghị định 128/2025/NĐ-CP cũng đề cập đến việc phân quyền trong lĩnh vực nội vụ liên quan đến bình đẳng giới. Thủ tướng Chính phủ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về ban hành chiến lược, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và báo cáo Quốc hội hằng năm về việc thực hiện các mục tiêu này theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Luật Bình đẳng giới.
Một nhiệm vụ phân quyền khác là Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện quy định và triển khai tiêu chí phân loại giới tính trong số liệu thông tin thống kê nhà nước, theo quy định tại khoản 5 Điều 25 của Luật Bình đẳng giới. Việc phân quyền này cho thấy sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp và các bộ, ngành trong việc thúc đẩy và giám sát việc thực hiện công tác bình đẳng giới ở tầm quốc gia.
Phân cấp trong công tác văn thư, lưu trữ
Thẩm quyền nộp tài liệu vào lưu trữ lịch sử
Trong lĩnh vực nội vụ liên quan đến công tác văn thư, lưu trữ nhà nước, Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định việc phân cấp thẩm quyền quyết định cơ quan, tổ chức khác của Nhà nước không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật Lưu trữ nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ lịch sử của Nhà nước ở trung ương thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Tương tự, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được phân cấp nhiệm vụ, quyền hạn quyết định cơ quan, tổ chức khác của Nhà nước không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật Lưu trữ nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ lịch sử của Nhà nước ở địa phương. Sự phân cấp này giúp việc quản lý và thu thập tài liệu lưu trữ lịch sử được thực hiện linh hoạt và phù hợp với hệ thống tổ chức lưu trữ của nhà nước ở từng cấp.
Các quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành
Thời điểm Nghị định có hiệu lực và hết hiệu lực
Nghị định 128/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Tuy nhiên, Nghị định này sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027, trừ các trường hợp đặc biệt. Các trường hợp ngoại lệ bao gồm việc Bộ, cơ quan ngang bộ báo cáo Chính phủ đề xuất và được Quốc hội quyết định kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ hoặc một phần Nghị định, hoặc khi các văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự, thủ tục tương ứng với Nghị định này được thông qua hoặc ban hành và có hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027. Quy định này cho thấy Nghị định có thể mang tính chất thí điểm hoặc có thời hạn áp dụng nhất định, chờ đợi các văn bản pháp luật chuyên ngành được điều chỉnh.
Trong thời gian Nghị định 128/2025/NĐ-CP có hiệu lực, nếu có quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự, thủ tục khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, thì sẽ thực hiện theo quy định tại Nghị định này. Điều này đảm bảo tính ưu tiên áp dụng của các quy định về phân quyền, phân cấp mới được ban hành.
Xử lý các nhiệm vụ, văn bản đang dở dang
Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định về điều khoản chuyển tiếp để đảm bảo quá trình triển khai được thông suốt. Đối với các nhiệm vụ đang được cơ quan, người có thẩm quyền phân quyền, phân cấp thụ lý và đã thực hiện một phần nhưng chưa hoàn thành trước thời điểm Nghị định có hiệu lực, thì vẫn tiếp tục được thực hiện và giải quyết bởi chính cơ quan, người đó. Các văn bản, giấy phép, giấy chứng nhận đã được ban hành trước ngày Nghị định có hiệu lực và còn thời hạn thì tiếp tục được áp dụng theo thời hạn ghi trên đó. Trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu sửa đổi, cấp lại các văn bản này bởi cơ quan được phân quyền, phân cấp mới, họ có thể có văn bản đề nghị để được giải quyết. Quy định chuyển tiếp này nhằm tránh gián đoạn và đảm bảo quyền lợi cho người dân, tổ chức trong quá trình chuyển đổi.
Trách nhiệm của các cơ quan sau phân cấp
Cơ quan, người được phân quyền, phân cấp theo Nghị định 128/2025/NĐ-CP có những trách nhiệm cụ thể. Họ phải rà soát các nhiệm vụ được phân quyền, phân cấp để chỉnh sửa, bổ sung và công bố Quyết định danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết, đảm bảo giải quyết thủ tục hành chính sau phân cấp được thông suốt. Việc kế thừa toàn bộ hồ sơ, tài liệu và kết quả giải quyết trước đó là bắt buộc, không được yêu cầu cá nhân, tổ chức nộp lại hồ sơ hoặc thực hiện lại các bước đã làm. Các cơ quan này cũng phải báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phân quyền, phân cấp định kỳ hằng năm và đề nghị điều chỉnh nội dung nếu phát sinh vướng mắc vượt thẩm quyền. Các cơ quan, người có thẩm quyền phân quyền, phân cấp ban đầu có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện.
Tóm lại, Nghị định 128/2025/NĐ-CP là văn bản pháp lý quan trọng, cụ thể hóa chủ trương phân quyền, phân cấp mạnh mẽ trong quản lý nhà nước lĩnh vực nội vụ. Việc triển khai hiệu quả Nghị định này được kỳ vọng sẽ nâng cao năng lực và trách nhiệm của chính quyền địa phương, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ người dân tốt hơn. Edupace sẽ tiếp tục cập nhật thông tin mới nhất về việc thực thi các quy định này.
FAQs
Mục đích chính của Nghị định 128/2025/NĐ-CP là gì?
Mục đích chính của Nghị định 128/2025/NĐ-CP là cụ thể hóa việc phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước lĩnh vực nội vụ. Điều này nhằm tăng cường tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, đồng thời giúp các cơ quan trung ương tập trung vào quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế và tăng cường kiểm tra, giám sát. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp.
Nghị định 128/2025/NĐ-CP ảnh hưởng đến những đối tượng nào?
Nghị định 128/2025/NĐ-CP ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước lĩnh vực nội vụ, đặc biệt là Bộ Nội vụ, các bộ, cơ quan ngang bộ khác có liên quan, Ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, xã), Sở Nội vụ. Bên cạnh đó, Nghị định cũng tác động gián tiếp đến người dân, người có công, người lao động, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện khi họ thực hiện các thủ tục hành chính hoặc chịu sự quản lý liên quan đến các lĩnh vực được phân quyền, phân cấp.
Những lĩnh vực nội vụ nào được phân quyền, phân cấp theo Nghị định này?
Nghị định 128/2025/NĐ-CP quy định việc phân quyền, phân cấp trong nhiều lĩnh vực nội vụ cốt lõi. Các lĩnh vực chính bao gồm: công tác đối với người có công với cách mạng, quản lý nhà nước về chính quyền địa phương (bao gồm công nhận xã an toàn khu, xã đảo, vùng an toàn khu), quản lý nhà nước về lao động (tiền lương, lao động nước ngoài tại Việt Nam, an toàn vệ sinh lao động, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng), quản lý quỹ xã hội, quỹ từ thiện, công tác bình đẳng giới và công tác văn thư, lưu trữ nhà nước.
Khi nào Nghị định 128/2025/NĐ-CP chính thức có hiệu lực?
Nghị định 128/2025/NĐ-CP sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Nghị định này có thời hạn hiệu lực nhất định và sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định rõ trong điều khoản thi hành của Nghị định.





