Điều lệ trường mầm non đóng vai trò nền tảng pháp lý cho hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non tại Việt Nam. Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã cập nhật và quy định chi tiết nhiều khía cạnh quan trọng, từ tổ chức bộ máy đến các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ thơ.

Chương I. QUY ĐỊNH CHUNG

Tổng quan và Phân loại

Điều lệ trường mầm non ban hành kèm theo Thông tư số 52/2020/TT-BGDĐT có phạm vi điều chỉnh rộng, áp dụng cho tất cả các loại hình cơ sở giáo dục mầm non bao gồm trường mầm non, trường mẫu giáo và nhà trẻ. Văn bản này quy định chi tiết nhiều khía cạnh quan trọng như vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, quản lý, hoạt động chuyên môn, tài chính, tài sản, quy định về giáo viên, nhân viên, trẻ em, cũng như mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Đối tượng áp dụng của Điều lệ không chỉ giới hạn ở các trường mà còn bao gồm mọi tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động giáo dục mầm non.

Theo quy định của Điều lệ, trường mầm non được xác định là một cơ sở giáo dục mầm non nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam. Với tư cách pháp nhân, các trường mầm non có đầy đủ quyền hạn về tài khoản và con dấu riêng để thực hiện các giao dịch và hoạt động theo quy định của pháp luật. Việc phân loại trường mầm non được dựa trên nguồn đầu tư và chủ sở hữu. Có ba loại hình chính: trường mầm non công lập do Nhà nước đầu tư và quản lý; trường mầm non dân lập do cộng đồng dân cư tại địa phương góp vốn xây dựng và đảm bảo điều kiện hoạt động; và trường mầm non tư thục do các nhà đầu tư, cả trong nước lẫn nước ngoài, đầu tư và chịu trách nhiệm về mọi điều kiện hoạt động. Sự đa dạng về loại hình này nhằm đáp ứng nhu cầu gửi trẻ em mầm non của các tầng lớp nhân dân và điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau trên cả nước.

Trong công tác quản lý nhà nước đối với trường mầm non, Thông tư 52 phân cấp rõ ràng. Quyết định thành lập cơ sở giáo dục mầm non do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành, đồng thời Ủy ban nhân dân cấp huyện cũng là cơ quan quản lý trực tiếp. Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện đóng vai trò là đơn vị tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ mầm non. Sự phân cấp này nhằm đảm bảo việc quản lý sát sao và hiệu quả đối với các trường mầm non trên địa bàn.

Nhiệm vụ và Tên gọi của nhà trường

Nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non được quy định cụ thể tại Điều lệ, phản ánh vai trò quan trọng của bậc học này. Các trường có trách nhiệm xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển phù hợp với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và điều kiện thực tế của địa phương. Trọng tâm hoạt động là tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi dựa trên chương trình giáo dục mầm non do Bộ ban hành. Nhà trường chủ động trong việc đề xuất nhu cầu, tham gia tuyển dụng, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng khác là thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định. Các thông tin về mục tiêu, chương trình, kế hoạch, điều kiện đảm bảo chất lượng và kết quả kiểm định phải được công khai minh bạch. Nhà trường cũng phải đảm bảo thực hiện quy chế dân chủ và trách nhiệm giải trình trong quản lý. Việc huy động trẻ em đến trường, quản lý trẻ, tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ khuyết tật là những trách nhiệm không thể thiếu. Đặc biệt, trường mầm non được giao nhiệm vụ thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi trong phạm vi được phân công, đồng thời hỗ trợ các cơ sở giáo dục mầm non khác trên địa bàn nâng cao chất lượng hoạt động.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Bên cạnh đó, trường mầm non có quyền huy động, quản lý, và sử dụng các nguồn lực tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật, đồng thời xây dựng cơ sở vật chất theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Việc tham mưu với chính quyền địa phương, phối hợp chặt chẽ với gia đình hoặc người chăm sóc trẻ và các tổ chức, cá nhân có liên quan là cần thiết để thực hiện hiệu quả công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Nhà trường cũng khuyến khích cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, và trẻ em tham gia các hoạt động phù hợp trong cộng đồng. Ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn trên, các trường mầm non còn thực hiện các quy định khác của pháp luật liên quan đến lĩnh vực giáo dục.

Về tên gọi và biển tên trường, Thông tư 52 cũng đưa ra những quy định chi tiết nhằm đảm bảo sự thống nhất và minh bạch. Tên trường bao gồm loại hình cơ sở giáo dục (Trường mầm non, Trường mẫu giáo, hoặc Nhà trẻ) và tên riêng do nhà trường tự đặt. Tên này phải được ghi rõ trên quyết định thành lập, con dấu, biển tên, và mọi giấy tờ giao dịch. Tên riêng cần đảm bảo sự rõ ràng, không gây nhầm lẫn, phù hợp với truyền thống văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, đồng thời tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ. Biển tên trường được quy định về bố cục và nội dung cụ thể, bao gồm tên cơ quan chủ quản ở góc trên bên trái (UBND cấp huyện và Phòng Giáo dục và Đào tạo), tên nhà trường ở vị trí trung tâm (có thể thêm tên tiếng nước ngoài nhỏ hơn), và thông tin liên hệ, quyết định thành lập ở góc dưới bên trái. Đối với các điểm trường lẻ, tên điểm trường sẽ được ghi dưới tên trường chính.

Chương II. TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG

Việc thành lập, cho phép hoạt động, sáp nhập, chia tách, đình chỉ hoạt động, hoặc giải thể trường mầm non được thực hiện theo quy định của Chính phủ về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Điều này đảm bảo tính pháp lý và sự quản lý chặt chẽ của nhà nước đối với các cơ sở giáo dục mầm non. Cơ cấu tổ chức của một trường mầm non bao gồm nhiều bộ phận và hội đồng khác nhau để đảm bảo hoạt động thông suốt và hiệu quả. Các thành phần chính bao gồm: Hội đồng trường (là cơ quan quản trị), Ban Giám hiệu (Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm điều hành), các hội đồng chuyên môn (Thi đua khen thưởng, Kỷ luật, Tư vấn), các tổ chức Đảng và đoàn thể (Công đoàn, Đoàn Thanh niên), các tổ chuyên môn và tổ văn phòng, cùng với các nhóm trẻ và lớp mẫu giáo trực tiếp thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

Vai trò của Hội đồng trường và Ban Giám hiệu

Hội đồng trường có vai trò khác nhau tùy thuộc vào loại hình trường mầm non. Tại trường mầm non công lập, Hội đồng trường là tổ chức quản trị, đại diện cho quyền sở hữu của nhà trường và các bên liên quan. Hội đồng này có trách nhiệm quyết định về phương hướng hoạt động, huy động và giám sát việc sử dụng nguồn lực, gắn kết nhà trường với cộng đồng, đảm bảo mục tiêu giáo dục. Thành phần Hội đồng trường công lập thường bao gồm đại diện cấp ủy, Ban Giám hiệu, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, chính quyền địa phương, và ban đại diện cha mẹ trẻ em. Số lượng thành viên là số lẻ, từ 07 đến 13 người. Nhiệm kỳ của Hội đồng trường công lập là 05 năm. Hội đồng trường công lập quyết nghị về mục tiêu, chiến lược, kế hoạch, quy chế hoạt động, tổ chức nhân sự, tài chính, tài sản, đồng thời giám sát các hoạt động của nhà trường, việc thực hiện dân chủ. Hội đồng họp định kỳ ít nhất 03 lần mỗi năm, có thể họp bất thường khi cần thiết. Cuộc họp được công nhận hợp lệ khi có từ 3/4 thành viên trở lên tham dự, và quyết nghị có hiệu lực khi được ít nhất 2/3 thành viên có mặt nhất trí. Hiệu trưởng có trách nhiệm thực hiện các quyết nghị này.

Đối với trường mầm non dân lập, Hội đồng trường đại diện quyền sở hữu của nhà trường do cộng đồng dân cư thành lập. Hội đồng quyết định về phương hướng, quy hoạch, kế hoạch, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản. Thành phần gồm đại diện cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương cấp xã, và người góp vốn. Số lượng thành viên là số lẻ, ít nhất 03 người. Nhiệm kỳ cũng là 05 năm. Hội đồng trường dân lập xây dựng kế hoạch phát triển, quy chế hoạt động, quy định thu chi tài chính, huy động vốn đầu tư, phê duyệt dự toán/quyết toán, đề cử hiệu trưởng/phó hiệu trưởng, phê duyệt phương án tổ chức bộ máy, và giám sát hoạt động, việc thực hiện dân chủ, hiệu trưởng, kế toán trưởng. Hội đồng họp định kỳ ít nhất 03 lần mỗi năm. Cuộc họp hợp lệ khi có từ 2/3 tổng số thành viên dự họp, hoặc hơn một nửa trong trường hợp triệu tập lần hai. Quyết nghị có hiệu lực khi được trên 1/2 số thành viên nhất trí.

Tại trường mầm non tư thục, Hội đồng trường là tổ chức quản trị, đại diện cho nhà đầu tư và các bên liên quan. Hội đồng tổ chức thực hiện quyết định của nhà đầu tư về phương hướng, quy hoạch, kế hoạch, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản. Thành phần gồm đại diện nhà đầu tư, thành viên trong và ngoài trường. Số lượng thành viên là số lẻ, ít nhất 03 người. Nhiệm kỳ là 05 năm. Hội đồng do hội nghị nhà đầu tư bầu và được UBND cấp huyện công nhận. Nhiệm vụ và quyền hạn tương tự trường dân lập, tập trung vào phê duyệt kế hoạch, quy chế, tài chính, nhân sự, đề cử hiệu trưởng/phó hiệu trưởng, và giám sát. Hoạt động họp định kỳ ít nhất 03 lần mỗi năm. Cuộc họp hợp lệ khi có từ 2/3 tổng số thành viên dự họp, hoặc quá nửa trong trường hợp triệu tập lần hai. Nghị quyết có hiệu lực khi được trên 1/2 số thành viên nhất trí; trường hợp ngang phiếu thì quyết định thuộc về Chủ tịch Hội đồng trường. Hiệu trưởng có trách nhiệm thực hiện quyết nghị của Hội đồng trường.

Hiệu trưởng là người đứng đầu, chịu trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức, quản lý mọi hoạt động và chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của trường mầm non. Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Hiệu trưởng phải đạt các tiêu chuẩn theo quy định. Hiệu trưởng trường mầm non công lập do Chủ tịch UBND cấp huyện bổ nhiệm, trong khi Hiệu trưởng trường mầm non dân lập và tư thục do Chủ tịch UBND cấp huyện công nhận. Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng là 05 năm và có thể được bổ nhiệm/công nhận lại sau khi đánh giá. Hiệu trưởng trường công lập không công tác quá hai nhiệm kỳ liên tiếp tại một trường. Nhiệm vụ của Hiệu trưởng rất đa dạng, từ xây dựng bộ máy, lập kế hoạch năm học, quản lý nhân sự, tài chính, tài sản, tiếp nhận và quản lý trẻ em, tổ chức các hoạt động giáo dục, đến tham gia sinh hoạt chuyên môn (02 giờ/tuần), tự bồi dưỡng, thực hiện dân chủ, xã hội hóa giáo dục, và phối hợp với cộng đồng.

Phó Hiệu trưởng là người hỗ trợ Hiệu trưởng trong công tác quản lý, chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng và pháp luật về các nhiệm vụ được phân công. Tiêu chuẩn bổ nhiệm/công nhận Phó Hiệu trưởng cũng phải tuân thủ quy định. Phó Hiệu trưởng trường công lập do Chủ tịch UBND cấp huyện bổ nhiệm; trường dân lập, tư thục do Chủ tịch UBND cấp huyện công nhận. Nhiệm kỳ của Phó Hiệu trưởng là 05 năm. Phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm điều hành công việc được giao, có thể điều hành nhà trường khi được Hiệu trưởng ủy quyền. Phó Hiệu trưởng cũng tham gia sinh hoạt chuyên môn (04 giờ/tuần), tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, và thực hiện xã hội hóa giáo dục. Cả Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng đều được hưởng các chế độ, chính sách đãi ngộ theo quy định của nhà nước đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.

Các Hội đồng và Tổ chức chuyên môn

Bên cạnh Hội đồng trường và Ban Giám hiệu, trường mầm non còn có các hội đồng khác được thành lập để hỗ trợ công tác quản lý và điều hành. Hội đồng Thi đua Khen thưởng do Hiệu trưởng thành lập vào đầu mỗi năm học, với Hiệu trưởng làm Chủ tịch. Thành phần bao gồm Phó Hiệu trưởng, đại diện cấp ủy, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, với số lượng thành viên là số lẻ. Hội đồng này có nhiệm vụ giúp Hiệu trưởng tổ chức các phong trào thi đua và đề xuất danh sách khen thưởng cho cán bộ, giáo viên, nhân viên. Hội đồng họp định kỳ vào đầu năm học, cuối học kỳ I, cuối năm học, và có thể họp đột xuất.

Hội đồng Kỷ luật được thành lập theo từng vụ việc cụ thể để xem xét hoặc xóa kỷ luật đối với người vi phạm. Hiệu trưởng cũng là Chủ tịch Hội đồng Kỷ luật, với thành phần tương tự Hội đồng Thi đua Khen thưởng, bao gồm Phó Hiệu trưởng, đại diện cấp ủy, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, các tổ chuyên môn, và tổ văn phòng. Các quy định về thành lập và hoạt động của Hội đồng Kỷ luật tuân thủ theo quy định của pháp luật về viên chức và người lao động.

Hội đồng Tư vấn là tổ chức do Hiệu trưởng thành lập khi có yêu cầu công việc cụ thể cần tham vấn ý kiến chuyên môn hoặc kinh nghiệm từ các thành viên trong hoặc ngoài nhà trường. Nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần, và thời gian hoạt động của các Hội đồng Tư vấn sẽ do Hiệu trưởng quy định tùy thuộc vào tính chất của vấn đề cần tư vấn.

Các tổ chức chính trị – xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong trường mầm non. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường lãnh đạo mọi hoạt động theo khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, và Điều lệ Đảng. Các tổ chức như Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoạt động theo quy định pháp luật và điều lệ của từng tổ chức, nhằm hỗ trợ nhà trường đạt được mục tiêu giáo dục mầm non, bảo vệ quyền lợi cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, và tham gia vào các hoạt động xã hội trong nhà trường.

Tổ chuyên môn là đơn vị nòng cốt, tập hợp các giáo viên theo khối nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, cùng với nhân viên nấu ăn. Mỗi tổ chuyên môn cần có ít nhất 03 thành viên, có tổ trưởng, và nếu có từ 07 thành viên trở lên thì có thêm tổ phó. Nhiệm vụ chính của tổ chuyên môn là xây dựng và triển khai kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng năm dựa trên kế hoạch chung của nhà trường và chương trình giáo dục mầm non. Tổ cũng thực hiện công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các thành viên, kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em, cũng như quản lý, sử dụng tài liệu, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị giáo dục. Tổ chuyên môn tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp và nhân viên theo quy định. Tổ chuyên môn sinh hoạt định kỳ ít nhất hai tuần một lần, hoạt động dựa trên nguyên tắc dân chủ, tôn trọng, chia sẻ, học tập, và hỗ trợ lẫn nhau để nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ.

Tổ văn phòng bao gồm các nhân viên hỗ trợ như kế toán, văn thư, y tế, thủ quỹ, bảo vệ, và các nhân viên khác tùy theo cơ cấu của trường. Tổ văn phòng cũng cần có ít nhất 03 thành viên, có tổ trưởng và có thể có tổ phó nếu từ 07 thành viên trở lên. Nhiệm vụ của tổ văn phòng là xây dựng kế hoạch hoạt động hàng tháng, hàng năm để phục vụ hiệu quả các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em của nhà trường. Tổ giúp Hiệu trưởng quản lý tài chính, tài sản, và lưu trữ hồ sơ, văn bản. Tổ văn phòng cũng thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các thành viên, kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả công việc của họ, và tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên trong tổ. Tổ văn phòng sinh hoạt định kỳ ít nhất một tháng một lần, hoạt động trên nguyên tắc dân chủ, tôn trọng, chia sẻ, học tập, và giúp đỡ lẫn nhau để phát triển năng lực chuyên môn.

Việc tổ chức trẻ em trong trường mầm non được thực hiện theo nhóm trẻ hoặc lớp mẫu giáo dựa trên độ tuổi. Nhóm trẻ dành cho trẻ em từ 03 tháng đến 36 tháng tuổi. Số lượng trẻ tối đa trong một nhóm trẻ được quy định cụ thể: 15 trẻ cho nhóm từ 03 đến 12 tháng tuổi; 20 trẻ cho nhóm từ 13 đến 24 tháng tuổi; và 25 trẻ cho nhóm từ 25 đến 36 tháng tuổi. Lớp mẫu giáo dành cho trẻ em từ 03 tuổi đến 06 tuổi. Số lượng trẻ tối đa trong một lớp mẫu giáo được quy định như sau: 25 trẻ cho lớp 3-4 tuổi; 30 trẻ cho lớp 4-5 tuổi; và 35 trẻ cho lớp 5-6 tuổi.

Trong trường hợp số lượng trẻ em trong một nhóm trẻ hoặc lớp mẫu giáo không đủ 50% so với số trẻ tối đa quy định, nhà trường có thể tổ chức thành nhóm trẻ ghép với không quá 20 trẻ em, hoặc lớp mẫu giáo ghép với không quá 30 trẻ em. Điều lệ cũng quy định rõ mỗi nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có thể có không quá 02 trẻ em khuyết tật học hòa nhập. Mỗi nhóm/lớp cần có đủ số lượng giáo viên theo quy định để đảm bảo chất lượng chăm sóc, giáo dục. Trường mầm non có thể tổ chức các điểm trường ở những địa bàn khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em đến trường, và mỗi điểm trường sẽ do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được phân công phụ trách.

Chương III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC

Các trường mầm non có trách nhiệm triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, đảm bảo cung cấp một môi trường học tập và phát triển toàn diện cho trẻ em. Dựa trên khung chương trình này, mỗi trường sẽ xây dựng kế hoạch giáo dục cụ thể cho từng năm học, phù hợp với điều kiện văn hóa, kinh tế – xã hội của địa phương, đặc điểm riêng của nhà trường, cũng như khả năng và nhu cầu của từng trẻ em. Việc phát triển chương trình giáo dục mầm non cấp trường cho phép sự linh hoạt và sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động. Đối với những trẻ em khuyết tật học hòa nhập, nhà trường cần xây dựng và thực hiện kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cá nhân hóa, phù hợp với khả năng của từng em và tuân thủ các quy định về giáo dục hòa nhập trẻ em khuyết tật.

Trong quá trình tổ chức hoạt động giáo dục, việc lựa chọn và sử dụng đồ dùng, đồ chơi, học liệu là rất quan trọng. Các vật liệu này cần phải tuân thủ quy định về an toàn, đồng thời phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp của chương trình giáo dục mầm non. Chúng cũng cần phản ánh văn hóa, điều kiện của địa phương, và đáp ứng khả năng, nhu cầu đa dạng của trẻ em. Nhà trường được trao quyền chủ động lựa chọn các loại đồ dùng, đồ chơi, học liệu đáp ứng các tiêu chí trên. Đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em khuyết tật học hòa nhập, cần có các tài liệu hướng dẫn chuyên biệt theo quy định về giáo dục hòa nhập để hỗ trợ giáo viên và nhà trường thực hiện hiệu quả.

Hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe trong trường mầm non được thực hiện theo các quy định của Chương trình giáo dục mầm non và quy định về công tác y tế trường học. Điều này bao gồm việc xây dựng thực đơn, đảm bảo dinh dưỡng cân đối, vệ sinh an toàn thực phẩm, theo dõi sức khỏe, và phòng chống dịch bệnh. Đối với trẻ em khuyết tật học hòa nhập, các hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe cần được điều chỉnh và hỗ trợ phù hợp với tình trạng và nhu cầu riêng của từng em, tuân thủ quy định về giáo dục hòa nhập trẻ em khuyết tật.

Hoạt động giáo dục là trọng tâm của trường mầm non, được tổ chức dựa trên Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Mục tiêu là đảm bảo sự phát triển toàn diện cho trẻ em về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm-xã hội, và thẩm mỹ. Các hoạt động giáo dục cần tuân thủ yêu cầu về nội dung và phương pháp, được tổ chức linh hoạt, phù hợp với đặc điểm phát triển của từng cá nhân trẻ em và của cả nhóm trẻ, lớp mẫu giáo. Trẻ em khuyết tật học hòa nhập cũng được tham gia vào các hoạt động giáo dục chung của lớp trên cơ sở điều chỉnh và hỗ trợ cần thiết theo quy định về giáo dục hòa nhập trẻ em khuyết tật.

Công tác đánh giá kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, và giáo dục là một phần không thể thiếu nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ em. Trường mầm non phải tổ chức kiểm tra sức khỏe định kỳ cho trẻ em với tần suất tối thiểu là một lần trong một năm học. Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em được thực hiện thông qua các biểu đồ tăng trưởng theo quy định, với tần suất một tháng một lần đối với trẻ em dưới 24 tháng tuổi, và ba tháng một lần đối với trẻ em từ 24 tháng tuổi trở lên. Ngoài ra, nhà trường còn thực hiện đánh giá sự phát triển toàn diện của trẻ em theo các tiêu chí và quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Việc quản lý hồ sơ là cần thiết để theo dõi, lưu trữ thông tin và phục vụ công tác quản lý của nhà trường. Thông tư 52 quy định cụ thể các loại hồ sơ cần thiết. Đối với nhà trường, các hồ sơ chính bao gồm: hồ sơ quản lý trẻ em, hồ sơ quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên; kế hoạch phát triển nhà trường và kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo năm học; hồ sơ phổ cập giáo dục; hồ sơ quản lý tài sản, tài chính; và hồ sơ quản lý các văn bản đi/đến. Tổ chuyên môn và tổ văn phòng có hồ sơ kế hoạch hoạt động và sổ ghi chép nội dung sinh hoạt của tổ. Giáo viên trực tiếp quản lý kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của nhóm/lớp, sổ theo dõi trẻ em, và sổ theo dõi tài sản, thiết bị, đồ chơi của nhóm/lớp mình phụ trách. Điều lệ cũng khuyến khích và cho phép sử dụng hồ sơ điện tử thay cho hồ sơ giấy theo lộ trình phù hợp với điều kiện địa phương, nhà trường, và khả năng của giáo viên, đảm bảo tính hợp pháp theo quy định của Sở Giáo dục và Đào tạo và chuẩn dữ liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Chương IV. TÀI SẢN VÀ TÀI CHÍNH CỦA NHÀ TRƯỜNG

Để đảm bảo hoạt động hiệu quả, trường mầm non cần có cơ sở vật chất và quản lý tài chính, tài sản một cách minh bạch, hiệu quả. Địa điểm, quy mô, và diện tích của nhà trường phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cơ sở vật chất do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Điều này đảm bảo môi trường vật lý đủ điều kiện để thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em.

Hệ thống cơ sở vật chất của trường mầm non ít nhất phải đạt mức tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định của Bộ. Tuy nhiên, nhà trường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lộ trình cụ thể, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhằm tăng cường đầu tư để duy trì và nâng cao mức đạt chuẩn, hướng tới chuẩn hóa, hiện đại hóa. Việc quản lý và sử dụng cơ sở vật chất hiện có phải đảm bảo hiệu quả, tránh lãng phí. Nhà trường cần có kế hoạch định kỳ để cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất theo quy định. Đặc biệt, tuyệt đối không đưa vào sử dụng những cơ sở vật chất đã hết niên hạn sử dụng nếu chưa được cải tạo, sửa chữa để đảm bảo an toàn cho trẻ em và đội ngũ.

Thiết bị giáo dục là công cụ hỗ trợ đắc lực trong quá trình dạy và học. Mỗi trường mầm non cần được trang bị đầy đủ các loại thiết bị giáo dục cần thiết. Nhà trường có trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo quản và sử dụng các thiết bị này một cách hiệu quả trong các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em theo đúng quy định. Giáo viên là người trực tiếp sử dụng thiết bị giáo dục và có trách nhiệm khai thác tối đa hiệu quả của chúng trong các hoạt động chuyên môn của mình.

Việc quản lý tài chính và tài sản trong trường mầm non phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Mọi thành viên trong nhà trường đều có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ tài sản chung của trường. Đối với các khoản thu, chi từ các nguồn tài chính khác nhau (ngân sách nhà nước, học phí, các khoản đóng góp tự nguyện, v.v.), việc quản lý phải được thực hiện theo đúng quy định hiện hành, đảm bảo tính công khai, minh bạch và sử dụng hiệu quả cho mục tiêu giáo dục mầm non.

CHƯƠNG V. NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN CỦA GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN

Đội ngũ giáo viên và nhân viên là những người trực tiếp thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em tại trường mầm non. Giáo viên chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức các hoạt động chuyên môn liên quan đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em. Nhân viên đóng vai trò hỗ trợ và phục vụ các hoạt động này, đảm bảo môi trường hoạt động an toàn và thuận lợi cho cả giáo viên và trẻ em.

Vai trò và nhiệm vụ của đội ngũ

Nhiệm vụ của giáo viên trường mầm non là rất đa dạng và quan trọng. Đầu tiên và trên hết, giáo viên có trách nhiệm bảo vệ an toàn tuyệt đối về thể chất, tinh thần, và tính mạng của trẻ em trong suốt thời gian trẻ ở trường. Họ thực hiện trực tiếp công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em theo đúng chương trình giáo dục mầm non đã được quy định. Giáo viên phải luôn giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của mọi trẻ em. Việc bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em là trách nhiệm hàng đầu. Giáo viên cũng cần đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp, thực hiện nghiêm túc quy tắc ứng xử và các quy định về đạo đức nhà giáo. Một nhiệm vụ quan trọng khác là tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ của trẻ, đồng thời chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục chung. Giáo viên không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực nghề nghiệp trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em. Cuối cùng, giáo viên phải thực hiện đầy đủ các quy định của nhà trường và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công việc của mình.

Nhân viên trong trường mầm non cũng có những nhiệm vụ cụ thể tùy thuộc vào vị trí công việc được giao. Họ thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch chung và sự phân công của Hiệu trưởng. Tùy theo chức danh nghề nghiệp (như kế toán, y tế, cấp dưỡng, bảo vệ…), nhân viên thực hiện công việc theo đúng tiêu chuẩn vị trí việc làm đang đảm nhiệm và chấp hành nghiêm nội quy của nhà trường. Một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhân viên cấp dưỡng là đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ em trong ăn uống và sinh hoạt tại nhà trường. Họ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình chế biến và phục vụ bữa ăn cho trẻ, tuyệt đối không để xảy ra ngộ độc thực phẩm. Nhân viên cũng cần giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của bản thân và nhà trường, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ đồng nghiệp, và thực hiện quy tắc ứng xử theo quy định. Việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cũng là cần thiết để nhân viên nâng cao chất lượng hỗ trợ công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em. Tương tự giáo viên, nhân viên phải thực hiện đầy đủ các quy định của nhà trường và các quy định pháp luật liên quan.

Quyền lợi và tiêu chuẩn nghề nghiệp

Giáo viên và nhân viên trong trường mầm non có nhiều quyền lợi được pháp luật bảo vệ. Họ được tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm, danh dự, và thân thể, được hưởng các quyền lợi về vật chất và tinh thần theo quy định. Giáo viên được tự chủ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mình với sự hỗ trợ từ tổ chuyên môn và nhà trường, được đảm bảo đầy đủ các điều kiện làm việc cần thiết để thực hiện hiệu quả công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Cả giáo viên và nhân viên đều được hưởng tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, và các chế độ khác theo quy định của pháp luật. Họ được tạo điều kiện thuận lợi để học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, và được hưởng nguyên lương, phụ cấp, cùng các chế độ chính sách khác khi được cấp có thẩm quyền cử đi học tập, bồi dưỡng. Giáo viên và nhân viên có quyền được khen thưởng, tặng danh hiệu thi đua và các danh hiệu cao quý khác khi đạt thành tích xuất sắc theo quy định. Ngoài ra, họ còn được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Về trình độ chuẩn được đào tạo và chuẩn nghề nghiệp, Thông tư 52 đưa ra yêu cầu cụ thể. Trình độ chuẩn được đào tạo đối với giáo viên trường mầm non là có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm mầm non. Hàng năm, giáo viên có trách nhiệm tự đánh giá và được nhà trường đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non. Kết quả đánh giá này là căn cứ quan trọng để giáo viên xây dựng kế hoạch học tập, bồi dưỡng nhằm không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục mầm non. Trình độ chuẩn được đào tạo của nhân viên trong các cơ sở giáo dục mầm non được quy định tại các văn bản tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp tương ứng với từng vị trí việc làm của nhân viên theo quy định của pháp luật.

Hành vi, ứng xử, và trang phục của giáo viên, nhân viên cũng được quy định để đảm bảo môi trường giáo dục lành mạnh và chuyên nghiệp. Hành vi và ứng xử phải tuân thủ quy định của ngành giáo dục và pháp luật, thể hiện sự mẫu mực, tôn trọng đối với trẻ em, đồng nghiệp, và phụ huynh. Các hành vi bị cấm tuyệt đối bao gồm: xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể trẻ em và đồng nghiệp; đối xử không công bằng đối với trẻ em; xuyên tạc nội dung giáo dục; bỏ giờ, bỏ buổi dạy; tùy tiện cắt xén chương trình nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; làm việc riêng khi đang tổ chức các hoạt động chuyên môn; hút thuốc, uống rượu, bia, và sử dụng các chất kích thích khác khi đang tham gia các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trang phục của giáo viên và nhân viên khi làm việc tại trường cần đảm bảo sự phù hợp, tiện lợi cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ, đồng thời đáp ứng yêu cầu chung về trang phục công sở, thể hiện sự nghiêm túc và chuyên nghiệp.

Chương VI. TRẺ EM

Trẻ em là trung tâm của mọi hoạt động trong trường mầm non, và các quy định trong Điều lệ nhằm đảm bảo quyền lợi và sự phát triển tốt nhất cho các em. Về tuổi và sức khỏe, trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi được nhận vào trường mầm non. Đây là lứa tuổi quan trọng cho sự hình thành và phát triển toàn diện. Đối với những trẻ em khuyết tật, Điều lệ có quy định đặc biệt, cho phép các em được nhập học ở độ tuổi cao hơn so với quy định chung là 03 tuổi, tạo điều kiện linh hoạt để các em có thể tiếp cận với giáo dục mầm non và hòa nhập cộng đồng.

Quyền và trách nhiệm của trẻ

Quyền của trẻ em trong trường mầm non được quy định cụ thể, đảm bảo các em nhận được sự chăm sóc và giáo dục tốt nhất. Trẻ em có quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục phù hợp với điều kiện di chuyển của trẻ và khả năng tiếp nhận của trường mầm non. Các em được hưởng một chương trình giáo dục mầm non phù hợp với khả năng và nhu cầu phát triển riêng của bản thân. Đối với trẻ em khuyết tật, các em có quyền được tham gia giáo dục hòa nhập và được hưởng các chính sách hỗ trợ đặc thù dành cho người khuyết tật theo quy định của pháp luật. Quyền cơ bản và quan trọng nhất là được bảo đảm an toàn về thể chất và tinh thần. Trẻ em phải luôn được chăm sóc, tôn trọng, và đối xử bình đẳng, được bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em và pháp luật Việt Nam. Điều lệ cũng nhấn mạnh việc trẻ em được bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, vệ sinh, an toàn tại trường mầm non. Trẻ em có quyền được tham gia vào các hoạt động đa dạng, giúp phát huy tối đa khả năng và sở trường cá nhân. Bên cạnh đó, trẻ em còn được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật dành cho trẻ em mầm non, đặc biệt là các nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Cuối cùng, trẻ em được hưởng tất cả các quyền khác được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan.

Cùng với các quyền lợi, trẻ em cũng có những nhiệm vụ nhất định phù hợp với lứa tuổi để hình thành nhân cách và ý thức cộng đồng. Trẻ em cần học cách lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, và những người lớn tuổi khác. Việc đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ bạn bè và em nhỏ là một trong những đức tính quan trọng mà giáo dục mầm non hướng tới. Trẻ em được khuyến khích chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục dành cho mình, phù hợp với khả năng và lứa tuổi. Việc mặc trang phục gọn gàng, phù hợp với lứa tuổi và thuận tiện cho các hoạt động tại trường mầm non cũng là một nhiệm vụ được đặt ra. Trẻ em được hướng dẫn và khuyến khích giữ gìn vệ sinh cá nhân, đồng thời tham gia vào việc giữ gìn vệ sinh trường, lớp trong phạm vi khả năng của mình, góp phần bảo vệ môi trường chung. Cuối cùng, trẻ em cần thực hiện các quy định chung do trường mầm non ban hành nhằm duy trì nề nếp và kỷ luật trong môi trường tập thể.

Chương VII. QUAN HỆ GIỮA NHÀ TRƯỜNG, GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI

Mối quan hệ phối hợp giữa trường mầm non, gia đình, và xã hội đóng vai trò cực kỳ quan trọng, tạo nên một môi trường giáo dục đồng bộ và hiệu quả nhất cho trẻ em mầm non. Mục tiêu của sự phối hợp này là đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức và hành động về công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ, đồng thời huy động đa dạng các nguồn lực để xây dựng cơ sở giáo dục mầm non ngày càng vững mạnh, tạo môi trường giáo dục tốt nhất cho mỗi trẻ em. Nguyên tắc phối hợp dựa trên sự chủ động, cộng đồng trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, hợp tác, và chia sẻ giữa các bên.

Để thúc đẩy mối quan hệ này, trường mầm non cần chủ động tham mưu, đề xuất với chính quyền địa phương về việc phát triển quy mô trường lớp, xây dựng cơ sở vật chất. Nhà trường cũng cần công khai kế hoạch và kết quả các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, cùng với các hoạt động phối hợp với cha mẹ trẻ em. Việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ và cộng đồng là nhiệm vụ quan trọng, giúp nâng cao hiểu biết và kỹ năng của phụ huynh. Nhà trường cũng thực hiện các hoạt động phòng bệnh và kiểm tra sức khỏe định kỳ cho trẻ em.

Gia đình có trách nhiệm chủ động phối hợp với trường mầm non trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em tại nhà. Sự đồng hành của gia đình là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình giáo dục trẻ. Cha mẹ được khuyến khích tự nguyện đóng góp cả về trí tuệ, công sức, và vật chất để tăng cường cơ sở vật chất và cải thiện điều kiện hoạt động của nhà trường. Họ cũng tích cực tham gia vào các hoạt động do nhà trường tổ chức và thực hiện quyền giám sát để đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực đóng góp được hiệu quả và minh bạch.

Nhà trường có quyền huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ cộng đồng và cha mẹ trẻ em. Việc quản lý và sử dụng các nguồn lực này phải tuân thủ nguyên tắc công khai, dân chủ, và đảm bảo quyền giám sát của những người đã đóng góp theo quy định. Trường mầm non cần chủ động đề xuất sự hỗ trợ từ cộng đồng, đồng thời lắng nghe và tiếp thu những ý kiến phản hồi tích cực từ cha mẹ trẻ em và cộng đồng về các hoạt động của trường. Đặc biệt, nhà trường cần quan tâm, hỗ trợ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vận động và tạo mọi điều kiện thuận lợi để trẻ em từ các gia đình này được đến trường và học tập.

Cộng đồng và cha mẹ của trẻ em không chỉ đóng góp mà còn có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và giám sát các hoạt động của trường mầm non. Họ có quyền phản hồi ý kiến về các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ, góp phần xây dựng một môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, và không ngừng nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, và giáo dục trẻ em. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững cho thế hệ trẻ em mầm non.

Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT là văn bản pháp lý quan trọng, định hình toàn bộ hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non. Việc hiểu rõ và tuân thủ các quy định này giúp đảm bảo môi trường học tập, nuôi dưỡng, chăm sóc an toàn và chất lượng cho trẻ em mầm non. Thông qua bài viết này, Edupace hy vọng đã cung cấp thông tin hữu ích về các quy định thiết yếu trong lĩnh vực giáo dục mầm non.

FAQs về Điều lệ Trường mầm non theo Thông tư 52

Thông tư 52/2020/TT-BGDĐT có hiệu lực từ khi nào?

Thông tư số 52/2020/TT-BGDĐT được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2020 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 31 tháng 3 năm 2021. Văn bản này thay thế nhiều Quyết định và Thông tư trước đó về Điều lệ trường mầm non, mang lại những cập nhật và điều chỉnh phù hợp với tình hình hiện tại của giáo dục mầm non tại Việt Nam.

Điều lệ Trường mầm non theo Thông tư 52 quy định những nội dung chính nào?

Điều lệ trường mầm non theo Thông tư 52 quy định một cách toàn diện về nhiều khía cạnh hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non. Các nội dung chính bao gồm vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, và công tác quản lý nhà trường. Văn bản cũng đi sâu vào quy định về tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, và giáo dục trẻ em, cùng với các quy định về tài chính, tài sản, đội ngũ giáo viên và nhân viên, quyền và nhiệm vụ của trẻ em, và mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình, và xã hội. Đây là khung pháp lý quan trọng định hướng mọi hoạt động trong lĩnh vực giáo dục mầm non.

Có những loại hình trường mầm non nào được quy định trong Điều lệ?

Theo Điều lệ, cơ sở giáo dục mầm non được phân thành ba loại hình chính dựa trên nguồn đầu tư và quản lý. Loại hình đầu tiên là trường mầm non công lập, do Nhà nước đầu tư và chịu trách nhiệm chính. Loại hình thứ hai là trường mầm non dân lập, được thành lập và đầu tư bởi cộng đồng dân cư tại địa phương. Cuối cùng là trường mầm non tư thục, được thành lập và đầu tư bởi các nhà đầu tư, có thể là trong nước hoặc nước ngoài.

Số lượng trẻ tối đa trong một nhóm trẻ hoặc lớp mẫu giáo được quy định như thế nào trong Thông tư 52?

Thông tư 52 quy định cụ thể số lượng trẻ em tối đa trong từng nhóm trẻ và lớp mẫu giáo để đảm bảo chất lượng chăm sóc và giáo dục. Đối với nhóm trẻ (từ 03 tháng đến 36 tháng), số lượng tối đa lần lượt là 15 trẻ (03-12 tháng), 20 trẻ (13-24 tháng), và 25 trẻ (25-36 tháng). Đối với lớp mẫu giáo (từ 03 đến 06 tuổi), số lượng tối đa lần lượt là 25 trẻ (3-4 tuổi), 30 trẻ (4-5 tuổi), và 35 trẻ (5-6 tuổi). Điều lệ cũng cho phép nhóm trẻ ghép hoặc lớp mẫu giáo ghép với số lượng tối đa nhất định trong trường hợp số trẻ không đủ 50% so với quy định chuẩn.

Quyền và nhiệm vụ cơ bản của giáo viên và trẻ em trong trường mầm non là gì?

Giáo viên trong trường mầm non có nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ an toàn cho trẻ em, thực hiện chương trình giáo dục, giữ gìn phẩm chất nhà giáo, phối hợp với gia đình, và tự bồi dưỡng chuyên môn. Họ có quyền được tôn trọng, được hưởng lương và các chế độ đãi ngộ, được tạo điều kiện nâng cao trình độ. Trẻ em có quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường an toàn, bình đẳng, được hưởng các chế độ chính sách. Đồng thời, trẻ em có nhiệm vụ lễ phép, đoàn kết, tích cực tham gia hoạt động, giữ gìn vệ sinh cá nhân và môi trường.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *