Hoạt động nghệ thuật biểu diễn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội. Để quản lý và phát triển lĩnh vực này theo đúng quy định pháp luật, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2020/NĐ-CP. Văn bản này là kim chỉ nam cho các tổ chức, cá nhân hoạt động trong ngành, thay thế các quy định trước đây để phù hợp với bối cảnh hiện tại.
Tổng quan về Nghị định 144/2020/NĐ-CP
Nghị định 144/2020/NĐ-CP, được Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 12 năm 2020 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 02 năm 2021, là văn bản pháp lý quy định chi tiết về hoạt động nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam và các hoạt động từ Việt Nam ra nước ngoài. Văn bản này thay thế Nghị định 79/2012/NĐ-CP và Nghị định 15/2016/NĐ-CP, cập nhật các quy định để đảm bảo sự quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn trong lĩnh vực văn hóa nhạy cảm này.
Phạm vi điều chỉnh của Nghị định 144/2020/NĐ-CP rất rộng, bao gồm không chỉ các buổi biểu diễn trực tiếp trên sân khấu mà còn cả việc tổ chức các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật, thi người đẹp, người mẫu, và đặc biệt là việc lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật. Đối tượng áp dụng là mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam, cùng các bên có liên quan khác.
Việc hiểu rõ các khái niệm cơ bản được định nghĩa trong Nghị định là rất quan trọng. Hoạt động nghệ thuật biểu diễn được hiểu là toàn bộ quá trình từ sáng tạo đến truyền bá sản phẩm nghệ thuật đến công chúng, dù là trực tiếp hay gián tiếp qua các phương tiện kỹ thuật. Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động thể hiện các loại hình nghệ thuật như sân khấu, âm nhạc, múa, diễn xướng dân gian, kết hợp với trình diễn thời trang hoặc các hoạt động văn hóa, thể thao khác. Nghị định cũng định nghĩa rõ loại hình nghệ thuật biểu diễn và lưu hành bản ghi âm, ghi hình, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý toàn diện ngành này.
Những quy định cấm trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn
Một trong những nội dung cốt lõi và được quan tâm nhất của Nghị định 144/2020/NĐ-CP là các quy định về những hành vi bị cấm tuyệt đối trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn. Các quy định này nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, đạo đức, thuần phong mỹ tục và văn hóa truyền thống của dân tộc.
Nghị định nghiêm cấm các hành vi chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này bao gồm việc xuyên tạc lịch sử, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; xâm phạm an ninh quốc gia; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bất kỳ nội dung biểu diễn nào đi ngược lại các nguyên tắc cơ bản này đều bị cấm và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Sinh năm Giáp Thìn 1964 mệnh gì và tính cách đặc trưng
- Mơ Thấy Con Khỉ Đánh Số Gì? Giải Mã Chi Tiết Giấc Mơ Về Khỉ
- Nắm Vững Cách Đánh Trọng Âm 2 Âm Tiết Trong Tiếng Anh
- Người 89 tuổi năm 2025 được sinh năm 1936
- Nằm Mơ Thấy Rắn Có Điềm Gì? Giải Mã Bí Ẩn Giấc Mơ
Bên cạnh đó, Nghị định cũng cấm kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, những hành vi có thể ảnh hưởng xấu đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Điều này nhấn mạnh vai trò của nghệ thuật trong việc xây dựng hòa bình, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, thay vì lan truyền tư tưởng tiêu cực, gây chia rẽ.
Một điểm quan trọng khác là việc cấm sử dụng trang phục, từ ngữ, âm thanh, hình ảnh, động tác, phương tiện biểu đạt hoặc hình thức biểu diễn có hành vi trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Những nội dung này không được tác động tiêu cực đến đạo đức, sức khỏe cộng đồng và tâm lý xã hội. Quy định này nhằm đảm bảo các sản phẩm nghệ thuật phù hợp với giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, đồng thời bảo vệ người xem, đặc biệt là giới trẻ, khỏi những tác động tiêu cực về mặt tâm lý và đạo đức. Việc tuân thủ những điều cấm này là trách nhiệm hàng đầu của mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động nghệ thuật biểu diễn.
Quyền và Trách nhiệm của các bên liên quan
Nghị định 144/2020/NĐ-CP phân định rõ ràng quyền và trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hoạt động nghệ thuật biểu diễn, từ người tổ chức đến người biểu diễn và chủ địa điểm. Việc xác định rõ vai trò này giúp đảm bảo sự minh bạch, tuân thủ pháp luật và tạo môi trường hoạt động lành mạnh.
Tổ chức, cá nhân tổ chức biểu diễn nghệ thuật
Các tổ chức, cá nhân đứng ra tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật có quyền tổ chức hoạt động theo quy định pháp luật và hưởng các lợi ích hợp pháp từ việc này. Tuy nhiên, đi kèm với quyền lợi là những trách nhiệm hết sức quan trọng. Họ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định cấm đã nêu tại Điều 3 của Nghị định và các luật liên quan khác.
Trách nhiệm chính bao gồm thực hiện đúng nội dung đã thông báo hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. Họ phải đảm bảo nội dung hoạt động phù hợp với văn hóa truyền thống, phù hợp với lứa tuổi và giới tính người xem, đặc biệt phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ trẻ em nếu đối tượng hướng tới là trẻ em. Việc thực hiện đúng các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan cũng là trách nhiệm bắt buộc. Tổ chức còn có trách nhiệm thu hồi danh hiệu, giải thưởng đã trao nếu cá nhân đạt giải vi phạm quy định và không được sử dụng người biểu diễn đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động hoặc sử dụng các danh hiệu, giải thưởng đã bị thu hồi hoặc hủy bỏ. Trong trường hợp cần thiết, họ phải dừng hoặc thay đổi thời gian, địa điểm, kế hoạch tổ chức theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Tổ chức, cá nhân tham gia biểu diễn nghệ thuật
Người biểu diễn, nghệ sĩ, người mẫu tham gia vào các hoạt động nghệ thuật có quyền được biểu diễn theo pháp luật và thụ hưởng các lợi ích hợp pháp từ công việc của mình, đồng thời được Nhà nước bảo vệ.
Tuy nhiên, trách nhiệm của họ cũng rất lớn. Cá nhân tham gia biểu diễn phải tuân thủ các quy định cấm tại Điều 3 của Nghị định 144/2020/NĐ-CP và các luật khác có liên quan. Họ không được lợi dụng hoạt động biểu diễn để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Đặc biệt, người biểu diễn không được sử dụng các danh hiệu, giải thưởng đã bị thu hồi, hủy bỏ hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận (đối với các cuộc thi ở nước ngoài). Trách nhiệm tuân thủ các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan cũng áp dụng cho người tham gia biểu diễn.
Chủ địa điểm tổ chức
Chủ sở hữu hoặc người quản lý các địa điểm được sử dụng để tổ chức hoạt động nghệ thuật biểu diễn có quyền khai thác, sử dụng địa điểm theo quy định pháp luật và thu lợi ích hợp pháp.
Trách nhiệm của họ liên quan chủ yếu đến việc đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất và an toàn. Cụ thể, họ phải tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh, điều kiện an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng, chống cháy nổ, môi trường và các quy định pháp luật khác liên quan đến địa điểm hoạt động. Quan trọng là chủ địa điểm phải dừng hoặc thay đổi thời gian, quy mô hoạt động biểu diễn theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có sự cố hoặc vi phạm xảy ra.
Tổ chức, cá nhân lưu hành bản ghi âm, ghi hình
Đối với việc lưu hành các sản phẩm âm nhạc, phim ảnh, hoặc các bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật, các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động này có quyền lưu hành theo pháp luật và hưởng lợi ích hợp pháp.
Trách nhiệm của họ là không được lưu hành các bản ghi âm, ghi hình có nội dung vi phạm các quy định cấm tại Điều 3 của Nghị định. Họ cũng phải thực hiện đúng các quy định về quyền tác giả, quyền liên quan và đặc biệt là thực hiện việc lưu chiểu theo quy định của Nghị định 144/2020/NĐ-CP đối với các bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại.
Các hình thức tổ chức hoạt động biểu diễn và thủ tục tương ứng
Nghị định 144/2020/NĐ-CP phân loại các hình thức tổ chức hoạt động nghệ thuật biểu diễn và quy định các thủ tục hành chính tương ứng cho từng hình thức, chủ yếu dựa trên mục đích và tính chất công cộng của hoạt động.
Tổ chức biểu diễn nghệ thuật
Đối với việc tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật thông thường, Nghị định đưa ra ba hình thức chính với các quy định khác nhau:
- Biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị hoặc phục vụ nội bộ: Các cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động này chỉ cần thực hiện thủ tục thông báo tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện tùy đối tượng tổ chức) ít nhất 05 ngày làm việc trước ngày dự kiến. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm về nội dung.
- Biểu diễn tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí, nhà hàng không bán vé: Các cơ sở kinh doanh này cũng chỉ cần thông báo tới Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi tổ chức ít nhất 05 ngày làm việc trước đó.
- Các hình thức biểu diễn khác (thường là bán vé công cộng): Đây là hình thức đòi hỏi thủ tục chặt chẽ hơn. Tổ chức, cá nhân tổ chức phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể (đơn vị sự nghiệp công, hội chuyên ngành, tổ chức/cá nhân đăng ký kinh doanh hoạt động biểu diễn) và các điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, y tế, phòng cháy chữa cháy. Quan trọng nhất là phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh). Thủ tục cấp văn bản chấp thuận bao gồm nộp hồ sơ (văn bản đề nghị, kịch bản/danh mục tác phẩm) ít nhất 07 ngày làm việc trước ngày dự kiến. Cơ quan quản lý sẽ xem xét, thẩm định và trả lời trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đầy đủ.
Đối với các buổi biểu diễn không trực tiếp trước công chúng (trên phát thanh, truyền hình, môi trường mạng), trách nhiệm quản lý thuộc về người đăng/phát nội dung đó.
Tổ chức cuộc thi, liên hoan nghệ thuật
Tổ chức các cuộc thi hoặc liên hoan trong các loại hình nghệ thuật biểu diễn cũng được phân loại tương tự:
- Cuộc thi, liên hoan phục vụ nhiệm vụ chính trị hoặc nội bộ: Chỉ cần thông báo tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cấp huyện) ít nhất 10 ngày làm việc trước ngày dự kiến.
- Các cuộc thi, liên hoan khác (thường là công cộng): Đòi hỏi thủ tục chặt chẽ hơn và văn bản chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền. Điều kiện về chủ thể và an toàn tương tự như tổ chức biểu diễn bán vé. Thẩm quyền chấp thuận thuộc về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đối với cuộc thi, liên hoan toàn quốc, quốc tế do đơn vị Trung ương tổ chức) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (các trường hợp khác trên địa bàn). Hồ sơ đề nghị bao gồm văn bản đề nghị và đề án tổ chức cuộc thi, liên hoan. Thời hạn nộp hồ sơ là ít nhất 30 ngày làm việc trước ngày dự kiến, và thời gian xem xét, thẩm định là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ.
Tương tự, các cuộc thi, liên hoan không trực tiếp trước công chúng được đăng tải trên các phương tiện truyền thông và môi trường mạng do người đăng/phát chịu trách nhiệm.
Tổ chức cuộc thi người đẹp, người mẫu
Lĩnh vực thi người đẹp, người mẫu có những quy định riêng, dù cũng phân thành hai loại hình cơ bản:
- Cuộc thi dành cho đối tượng quản lý nội bộ: Chỉ cần thông báo tới Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi tổ chức ít nhất 10 ngày làm việc trước ngày dự kiến.
- Các cuộc thi khác (công cộng): Đòi hỏi thủ tục chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều kiện về chủ thể tổ chức và an toàn tương tự như các hoạt động biểu diễn khác. Thẩm quyền chấp thuận thuộc về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức cuộc thi. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan trực thuộc để quản lý hoạt động này. Hồ sơ đề nghị bao gồm văn bản đề nghị và đề án tổ chức cuộc thi. Thời hạn nộp hồ sơ là ít nhất 30 ngày làm việc trước ngày dự kiến, và thời gian xem xét, thẩm định là 15 ngày làm việc.
Các cuộc thi người đẹp, người mẫu không trực tiếp trước công chúng (trên phát thanh, truyền hình, môi trường mạng) do người đăng/phát chịu trách nhiệm.
Đối với tất cả các hình thức cần thông báo hoặc chấp thuận, Nghị định 144/2020/NĐ-CP cũng quy định rõ thủ tục trong trường hợp có sự thay đổi về nội dung, thời gian hoặc địa điểm so với ban đầu. Việc này cần được thông báo hoặc đề nghị xem xét lại với cơ quan đã tiếp nhận thông báo hoặc chấp thuận trước đó.
Xử lý vi phạm và quản lý danh hiệu
Nghị định 144/2020/NĐ-CP quy định các biện pháp xử lý khi phát hiện vi phạm trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn và cách thức quản lý danh hiệu, giải thưởng từ các cuộc thi.
Khi tổ chức hoặc cá nhân vi phạm các quy định tại Điều 3 (các hành vi bị cấm), hoặc không tuân thủ thủ tục thông báo/chấp thuận, hoặc vì lý do quốc phòng, an ninh, thiên tai, dịch bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu dừng hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Cơ quan có thẩm quyền dừng hoạt động là cơ quan đã tiếp nhận thông báo hoặc chấp thuận trước đó. Văn bản yêu cầu dừng phải nêu rõ lý do và thời điểm dừng. Tổ chức, cá nhân vi phạm phải tuân thủ yêu cầu này, khắc phục hậu quả và công bố công khai trên phương tiện thông tin đại chúng về việc dừng hoạt động, đồng thời đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan theo pháp luật. Nếu muốn tiếp tục hoạt động, họ phải có văn bản đề xuất phương án gửi cơ quan quản lý xem xét.
Liên quan đến danh hiệu, giải thưởng từ các cuộc thi, liên hoan, Nghị định 144/2020/NĐ-CP cũng có quy định xử lý. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tương tự cơ quan dừng hoạt động) có quyền yêu cầu tổ chức cuộc thi thu hồi danh hiệu, giải thưởng khi phát hiện cá nhân đạt giải vi phạm Điều 3 của Nghị định hoặc danh hiệu, giải thưởng được trao không đúng với nội dung đề án đã được chấp thuận hoặc nội dung đã thông báo. Tổ chức cuộc thi có trách nhiệm thu hồi danh hiệu theo yêu cầu, công bố công khai và giải quyết quyền lợi cho cá nhân bị thu hồi. Nếu tổ chức không thực hiện việc thu hồi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể quyết định hủy kết quả của cuộc thi, liên hoan đó sau 05 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản yêu cầu thu hồi, và công khai việc hủy kết quả trên hệ thống thông tin điện tử.
Những quy định này thể hiện sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đối với chất lượng nội dung và sự tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nghệ thuật, đảm bảo môi trường hoạt động lành mạnh và có trách nhiệm.
Quy định về lưu hành bản ghi âm, ghi hình
Việc lưu hành các sản phẩm âm thanh, hình ảnh có nội dung biểu diễn nghệ thuật là một phần quan trọng của hoạt động nghệ thuật biểu diễn, và Nghị định 144/2020/NĐ-CP cũng có những quy định cụ thể về vấn đề này. Nghị định phân biệt lưu hành bản ghi âm, ghi hình không nhằm mục đích thương mại và lưu hành nhằm mục đích thương mại.
Đối với các bản ghi âm, ghi hình không nhằm mục đích thương mại, trách nhiệm về nội dung thuộc về tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu. Điều này có nghĩa là việc lưu hành các sản phẩm này trong nội bộ hoặc cho mục đích phi lợi nhuận không yêu cầu thủ tục hành chính phức tạp như đối với mục đích kinh doanh.
Ngược lại, việc lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại đòi hỏi phải tuân thủ các điều kiện và thủ tục theo quy định của Nghị định. Điều kiện đầu tiên là chủ thể lưu hành phải là đơn vị sự nghiệp công có chức năng liên quan hoặc tổ chức, cá nhân đã đăng ký kinh doanh hoạt động này theo pháp luật.
Quan trọng nhất là thủ tục lưu chiểu bản ghi âm, ghi hình. Các tổ chức, cá nhân phải nộp lưu chiểu bản ghi âm, ghi hình cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền ít nhất 10 ngày trước khi dự kiến lưu hành ra thị trường. Thẩm quyền tiếp nhận lưu chiểu thuộc về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đối với bản ghi của tổ chức thuộc cơ quan Trung ương) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với bản ghi của tổ chức, cá nhân thuộc địa phương). Hồ sơ lưu chiểu bao gồm tờ khai nộp lưu chiểu kèm theo 02 bản ghi âm, ghi hình. Thời điểm nộp lưu chiểu chính là thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ và bản ghi.
Cơ quan nhà nước tiếp nhận lưu chiểu có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu nội dung của bản ghi âm, ghi hình. Nếu phát hiện nội dung vi phạm các quy định cấm tại Điều 3 của Nghị định hoặc các quy định pháp luật liên quan, cơ quan này có quyền quyết định đình chỉ lưu hành và buộc tiêu hủy bản ghi âm, ghi hình đó. Các bản ghi được lưu chiểu sẽ được tổ chức kho lưu giữ trong thời hạn 24 tháng trước khi thực hiện thanh lọc hoặc thanh lý theo quy định.
Đối với việc phân phối bản ghi âm, ghi hình của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, Nghị định cho phép thực hiện theo quy định pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, Nghị định 144/2020/NĐ-CP quy định rõ tổ chức, cá nhân nước ngoài không được trực tiếp phân phối bản ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam, có thể ngụ ý rằng việc này cần được thực hiện thông qua đối tác Việt Nam.
Việc xuất khẩu, nhập khẩu bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích kinh doanh cũng được điều chỉnh bởi Nghị định này và các quy định pháp luật liên quan. Đối với mục đích không kinh doanh, việc xuất nhập khẩu tuân thủ pháp luật hiện hành chung.
Những quy định này nhằm kiểm soát chặt chẽ nội dung các sản phẩm âm nhạc, hình ảnh được lưu hành trên thị trường, ngăn chặn việc phổ biến các nội dung độc hại, trái thuần phong mỹ tục, đồng thời bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan khác.
Tham gia cuộc thi người đẹp, người mẫu ở nước ngoài
Nghị định 144/2020/NĐ-CP cũng đưa ra các quy định đối với cá nhân Việt Nam có nguyện vọng ra nước ngoài tham dự các cuộc thi người đẹp, người mẫu quốc tế. Điều này nhằm quản lý và hỗ trợ công dân Việt Nam khi tham gia các sự kiện mang tính quốc tế, đảm bảo hình ảnh quốc gia và tuân thủ pháp luật.
Cá nhân Việt Nam muốn ra nước ngoài dự thi người đẹp, người mẫu phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Thứ nhất, phải có giấy mời chính thức từ tổ chức hoặc cá nhân tổ chức cuộc thi đó. Thứ hai, cá nhân không được trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Điều kiện thứ ba là cá nhân không trong thời gian bị đình chỉ hoạt động nghệ thuật biểu diễn theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam.
Để được ra nước ngoài dự thi, cá nhân phải thực hiện thủ tục đề nghị cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cá nhân cư trú cấp văn bản xác nhận dự thi. Hồ sơ đề nghị bao gồm Tờ khai, Phiếu lý lịch tư pháp số 1, và Bản sao giấy mời dự thi kèm theo bản dịch tiếng Việt có chứng thực chữ ký người dịch.
Cá nhân gửi hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc trực tuyến tới cơ quan có thẩm quyền. Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, cơ quan sẽ thông báo yêu cầu hoàn thiện trong 03 ngày làm việc. Trường hợp hồ sơ đầy đủ, cơ quan sẽ xem xét, thẩm định và cấp văn bản xác nhận trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Nếu không xác nhận, cơ quan sẽ trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Một điểm quan trọng được quy định tại Nghị định là nếu cá nhân Việt Nam ra nước ngoài dự thi người đẹp, người mẫu mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam xác nhận theo thủ tục trên, thì không được sử dụng danh hiệu đạt được tại cuộc thi đó trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn tại Việt Nam. Quy định này nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ quy định pháp luật trong nước ngay cả khi tham gia các hoạt động ở nước ngoài.
Trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước
Nghị định 144/2020/NĐ-CP phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động nghệ thuật biểu diễn cho các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước toàn diện trong lĩnh vực này. Các trách nhiệm chính bao gồm xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật; chỉ đạo, hướng dẫn, phổ biến, tổ chức thực hiện các quy định; quản lý công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; và chủ trì phối hợp thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm.
Các bộ, cơ quan ngang bộ khác cũng có vai trò phối hợp quan trọng. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp quản lý hoạt động biểu diễn trên phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử và môi trường mạng. Bộ Công an chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy và phối hợp quản lý xuất nhập cảnh liên quan đến người nước ngoài biểu diễn tại Việt Nam và người Việt Nam biểu diễn ở nước ngoài, cũng như phối hợp thanh tra, xử lý vi phạm. Bộ Ngoại giao phối hợp tổ chức các hoạt động phục vụ công tác đối ngoại và chỉ đạo các cơ quan đại diện ngoại giao hỗ trợ công dân Việt Nam hoạt động nghệ thuật ở nước ngoài. Các bộ, ngành khác trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp để đảm bảo công tác quản lý nhà nước hiệu quả.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản lý nhà nước về hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên địa bàn được giao. Họ ban hành các văn bản, kế hoạch, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các quy định của Nghị định và pháp luật liên quan; chỉ đạo công tác phát triển nguồn nhân lực, khen thưởng, hợp tác quốc tế; và thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trên địa bàn.
Sự phân công trách nhiệm rõ ràng này nhằm đảm bảo công tác quản lý nhà nước được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, từ cấp trung ương đến địa phương, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho sự phát triển của lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn.
Hiệu lực và quy định chuyển tiếp
Nghị định 144/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 02 năm 2021. Cùng với việc có hiệu lực, Nghị định này chính thức bãi bỏ hiệu lực của một số văn bản pháp luật trước đây liên quan đến hoạt động nghệ thuật biểu diễn, bao gồm Nghị định số 79/2012/NĐ-CP và Nghị định số 15/2016/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung Nghị định 79/2012/NĐ-CP), Điều 6 Nghị định số 142/2018/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 54/2019/NĐ-CP liên quan đến điều kiện kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường (trong phần quy định về biểu diễn nghệ thuật).
Đối với các giấy phép hoặc văn bản chấp thuận đã được cấp trước thời điểm Nghị định 144/2020/NĐ-CP có hiệu lực (trước ngày 01/02/2021) theo quy định của các Nghị định cũ (79/2012/NĐ-CP và 15/2016/NĐ-CP), các hoạt động được phép sẽ tiếp tục được thực hiện theo các giấy phép và văn bản chấp thuận đó. Điều này đảm bảo sự liên tục và không gây gián đoạn đột ngột cho các hoạt động đã được cấp phép trước khi Nghị định mới có hiệu lực.
Quy định chuyển tiếp này giúp các tổ chức, cá nhân có thời gian để thích ứng với những thay đổi trong quy định pháp luật mới mà không bị ảnh hưởng ngay lập tức bởi việc thay thế văn bản. Tuy nhiên, kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2021, mọi thủ tục mới và hoạt động mới đều phải tuân thủ hoàn toàn các quy định của Nghị định 144/2020/NĐ-CP.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đều chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Hiểu rõ và tuân thủ Nghị định 144/2020/NĐ-CP là điều cần thiết cho mọi tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn. Việc nắm vững các quy định không chỉ giúp tuân thủ pháp luật mà còn góp phần xây dựng một môi trường nghệ thuật lành mạnh, chuyên nghiệp. Edupace hy vọng thông tin này hữu ích cho bạn.
Câu hỏi thường gặp (FAQs)
Hoạt động nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 144/2020/NĐ-CP?
Nghị định 144/2020/NĐ-CP điều chỉnh các hoạt động nghệ thuật biểu diễn trên lãnh thổ Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. Phạm vi này bao gồm tổ chức biểu diễn nghệ thuật, tổ chức cuộc thi/liên hoan các loại hình nghệ thuật biểu diễn, tổ chức cuộc thi người đẹp/người mẫu, và lưu hành bản ghi âm/ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật.
Những hành vi nào bị cấm trong hoạt động nghệ thuật biểu diễn?
Nghị định nghiêm cấm các hành vi chống Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, xâm phạm an ninh quốc gia, xúc phạm lãnh tụ/anh hùng dân tộc, phá hoại đoàn kết, xúc phạm tín ngưỡng/tôn giáo, phân biệt chủng tộc. Ngoài ra, cấm kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh, gây hận thù và sử dụng các yếu tố (trang phục, từ ngữ, âm thanh, hình ảnh, động tác) trái thuần phong mỹ tục, tác động tiêu cực đến đạo đức, sức khỏe cộng đồng.
Cần thủ tục gì để tổ chức biểu diễn nghệ thuật?
Thủ tục tùy thuộc vào hình thức tổ chức. Biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, nội bộ hoặc tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ không bán vé chỉ cần thực hiện thủ tục thông báo. Các hình thức biểu diễn khác (thường bán vé công cộng) yêu cầu phải có văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi đáp ứng các điều kiện về chủ thể và an toàn, và nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận.
Làm thế nào để tham gia cuộc thi người đẹp, người mẫu ở nước ngoài?
Cá nhân Việt Nam muốn ra nước ngoài dự thi phải đáp ứng điều kiện về giấy mời, không có án tích hoặc bị xử lý hành chính, không bị đình chỉ hoạt động biểu diễn. Cần làm thủ tục đề nghị cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc UBND cấp tỉnh nơi cư trú cấp văn bản xác nhận dự thi, bằng cách nộp tờ khai, phiếu lý lịch tư pháp và bản sao giấy mời (kèm dịch công chứng).
Quy định về lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật là gì?
Đối với mục đích thương mại, tổ chức/cá nhân lưu hành phải đáp ứng điều kiện về chủ thể và bắt buộc thực hiện thủ tục lưu chiểu bản ghi âm/ghi hình cho Bộ VHTTDL hoặc UBND cấp tỉnh ít nhất 10 ngày trước khi lưu hành. Cơ quan quản lý có quyền kiểm tra và đình chỉ lưu hành nếu nội dung vi phạm quy định cấm. Lưu hành không nhằm mục đích thương mại thì trách nhiệm thuộc về người sản xuất/nhập khẩu.





