Việc quản lý, tính hao mòn và khấu hao tài sản cố định trong các cơ quan, đơn vị nhà nước và doanh nghiệp được Nhà nước giao quản lý là vô cùng quan trọng. Thông tư 45/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính đã ban hành những hướng dẫn chi tiết, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác này, đảm bảo minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài sản công.

Đối tượng và phạm vi áp dụng Thông tư 45/2018/TT-BTC

Thông tư 45/2018/TT-BTC quy định rõ ràng về chế độ quản lý, tính hao mòn và khấu hao tài sản cố định (TSCĐ) áp dụng cho nhiều loại hình đơn vị và tài sản. Phạm vi điều chỉnh bao gồm TSCĐ tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, Thông tư này cũng áp dụng đối với TSCĐ do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý mà không tính vào thành phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, có những loại tài sản đặc thù hoặc chuyên dùng trong lực lượng vũ trang, hay tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, sẽ có quy định riêng do các Bộ chuyên ngành hoặc Bộ Tài chính ban hành.

Đối tượng áp dụng chi tiết bao gồm TSCĐ tại các cơ quan và đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước như đã nêu. Ngoài ra, TSCĐ là trụ sở làm việc hoặc cơ sở hoạt động sự nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được thành lập theo pháp luật về hội cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này. Bộ Tài chính khuyến khích các tổ chức hội khác áp dụng các quy định tại Thông tư để quản lý và tính hao mòn, khấu hao đối với những tài sản không thuộc phạm vi bắt buộc.

Tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định theo quy định mới

Việc xác định một tài sản có phải là tài sản cố định hay không được quy định cụ thể tại Điều 3 của Thông tư 45/2018/TT-BTC, dựa trên hai nhóm chính là tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Đối với tài sản cố định hữu hình, đó là những tài sản có hình thái vật chất, có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận liên kết với nhau, phải thỏa mãn đồng thời hai tiêu chuẩn: có thời gian sử dụng từ một năm trở lên và có nguyên giá từ 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên.

Tương tự, tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng đơn vị đã đầu tư chi phí tạo lập hoặc được hình thành qua hoạt động, cũng phải đáp ứng hai tiêu chuẩn về thời gian sử dụng (một năm trở lên) và nguyên giá (từ 10.000.000 đồng trở lên) như tài sản hữu hình. Thông tư cũng cho phép các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành Danh mục tài sản chưa đủ tiêu chuẩn về giá trị (từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng) nhưng có thời gian sử dụng từ một năm trở lên, hoặc tài sản là trang thiết bị dễ hỏng, dễ vỡ có nguyên giá từ 10.000.000 đồng trở lên, để vẫn được coi là tài sản cố định thuộc phạm vi quản lý của mình, dựa trên đặc điểm sử dụng thực tế và yêu cầu quản lý.

Phân loại tài sản cố định được quy định tại Thông tư 45

Thông tư 45/2018/TT-BTC phân loại tài sản cố định thành hai nhóm chính dựa trên các tiêu chí khác nhau để phục vụ công tác quản lý và kế toán. Phân loại đầu tiên dựa trên tính chất và đặc điểm của tài sản, chia thành tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Tài sản cố định hữu hình được chia thành 7 loại nhỏ hơn bao gồm nhà, công trình xây dựng (như nhà làm việc, nhà kho, nhà xưởng), vật kiến trúc (tường rào, sân thể thao), xe ô tô (các loại phục vụ công tác, chuyên dùng), phương tiện vận tải khác (ngoài ô tô), máy móc thiết bị (văn phòng, chuyên dùng), cây lâu năm, súc vật làm việc và các tài sản cố định hữu hình khác.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Tài sản cố định vô hình cũng được chia thành 7 loại, bao gồm quyền sử dụng đất, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, phần mềm ứng dụng, thương hiệu của đơn vị sự nghiệp công lập (được xác định giá trị) và các tài sản cố định vô hình khác. Phân loại thứ hai dựa trên nguồn gốc hình thành tài sản, bao gồm tài sản cố định hình thành do mua sắm, đầu tư xây dựng, giao nhận điều chuyển, được tặng cho hoặc khuyến mại, kiểm kê phát hiện thừa chưa theo dõi trên sổ sách, và tài sản cố định được hình thành từ các nguồn khác. Việc phân loại này giúp đơn vị theo dõi và quản lý tài sản một cách có hệ thống, phục vụ cho công tác kế toán và báo cáo.

Quy định về tài sản cố định đặc thù

Trong hệ thống tài sản cố định theo quy định của Thông tư 45/2018/TT-BTC, một nhóm tài sản đặc biệt được gọi là tài sản cố định đặc thù. Những tài sản này thường không xác định được chi phí hình thành cụ thể hoặc khó đánh giá chính xác giá trị thực tế của chúng, nhưng lại yêu cầu phải được quản lý chặt chẽ về mặt hiện vật. Ví dụ điển hình của loại tài sản này là các cổ vật, hiện vật được trưng bày trong bảo tàng, lăng tẩm, các di tích lịch sử đã được xếp hạng. Ngoài ra, thương hiệu của đơn vị sự nghiệp công lập mà không xác định được chi phí hình thành cũng được xếp vào nhóm tài sản cố định đặc thù.

Để đảm bảo công tác quản lý thống nhất đối với những tài sản này, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ban hành Danh mục tài sản cố định đặc thù thuộc phạm vi quản lý của mình. Mặc dù giá trị thực khó xác định, nguyên giá của tài sản cố định đặc thù để phục vụ việc ghi sổ kế toán và nhập thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công được xác định theo một giá quy ước. Theo quy định, giá quy ước của tài sản cố định đặc thù được xác định là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Điều này giúp chuẩn hóa việc hạch toán các loại tài sản có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc thương hiệu không thể định lượng bằng chi phí đầu tư thông thường.

Nguyên tắc xác định nguyên giá tài sản cố định

Xác định nguyên giá là bước đầu tiên và quan trọng trong quản lý tài sản cố định theo Thông tư 45/2018/TT-BTC. Nguyên giá chính là toàn bộ chi phí mà đơn vị phải bỏ ra để có được tài sản đó tính đến thời điểm đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Đối với tài sản mua sắm, nguyên giá được tính bằng giá trị trên hóa đơn trừ các khoản chiết khấu/giảm giá, cộng thêm các chi phí phát sinh liên quan trực tiếp như vận chuyển, lắp đặt, chạy thử (sau khi trừ các khoản thu hồi từ sản phẩm thử), các loại thuế (không được hoàn lại), phí và lệ phí. Chi phí chung cho nhiều tài sản cần được phân bổ hợp lý.

Đối với tài sản hình thành từ đầu tư xây dựng, nguyên giá là giá trị quyết toán dự án được phê duyệt. Trường hợp chưa có quyết toán, đơn vị sử dụng nguyên giá tạm tính dựa trên giá trị đề nghị quyết toán, giá trị nghiệm thu A-B, hoặc giá trị dự toán dự án. Khi có quyết toán chính thức, nguyên giá tạm tính sẽ được điều chỉnh lại. Đối với tài sản được giao, điều chuyển, nguyên giá là giá trị ghi trên biên bản bàn giao (có thể là nguyên giá đang theo dõi hoặc giá trị còn lại đánh giá lại tại thời điểm bàn giao) cộng các chi phí liên quan đến việc tiếp nhận. Giá trị còn lại khi đánh giá lại được tính dựa trên tỷ lệ chất lượng còn lại và giá mua hoặc giá xây dựng mới tại thời điểm bàn giao. Tài sản được tặng cho, khuyến mại hoặc kiểm kê phát hiện thừa cũng có nguyên tắc xác định nguyên giá tương tự, dựa trên giá trị thị trường hoặc giá trị đánh giá lại tại thời điểm tiếp nhận/kiểm kê và cộng các chi phí liên quan.

Sử dụng và thay đổi nguyên giá tài sản cố định

Nguyên giá tài sản cố định được xác định theo quy định tại Điều 5, Điều 7 và Điều 8 của Thông tư 45/2018/TT-BTC có vai trò quan trọng trong công tác kế toán và quản lý tài sản công. Giá trị này được sử dụng để ghi sổ kế toán của đơn vị và kê khai thông tin để nhập vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công. Điều này đảm bảo tính thống nhất và minh bạch trong việc theo dõi toàn bộ tài sản thuộc sở hữu hoặc do Nhà nước giao cho các đơn vị quản lý.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nguyên giá này không phải là giá trị duy nhất được sử dụng trong mọi trường hợp liên quan đến tài sản cố định. Khi đơn vị thực hiện các hoạt động như bán tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xác định giá trị tài sản để góp vốn liên doanh, liên kết, hoặc sử dụng tài sản để thanh toán cho nhà đầu tư trong các dự án theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT), hoặc tham gia dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP), việc xác định giá trị tài sản cố định trong những trường hợp này sẽ thực hiện theo quy định riêng của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Nghị định số 151/2017/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan khác, không sử dụng nguyên giá kế toán thông thường.

Nguyên giá tài sản cố định có thể thay đổi trong một số trường hợp nhất định theo quy định tại Điều 10 Thông tư 45/2018/TT-BTC. Các trường hợp này bao gồm việc đánh giá lại giá trị tài sản theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện nâng cấp, mở rộng, sửa chữa lớn tài sản theo dự án được phê duyệt, tháo dỡ bớt hoặc lắp đặt thêm các bộ phận mới vào tài sản, hoặc điều chỉnh giá trị quyền sử dụng đất theo quy định của Nghị định số 151/2017/NĐ-CP.

Khi có sự thay đổi nguyên giá (trừ trường hợp quyền sử dụng đất), đơn vị cần lập biên bản ghi rõ lý do thay đổi và xác định lại nguyên giá mới cùng giá trị còn lại của tài sản để điều chỉnh sổ kế toán. Trường hợp dự án nâng cấp, sửa chữa chung cho nhiều tài sản, chi phí quyết toán sẽ được phân bổ cho từng tài sản bị ảnh hưởng. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, việc thay đổi nguyên giá dựa trên việc xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất tại thời điểm xác định lại, cộng thêm các loại thuế, phí liên quan (không được hoàn lại). Việc cập nhật nguyên giá kịp thời và chính xác là cần thiết để phản ánh đúng giá trị của tài sản sau các sự kiện ảnh hưởng.

Quản lý tài sản cố định sau khi xác định nguyên giá

Sau khi nguyên giá tài sản cố định được xác định theo các nguyên tắc của Thông tư 45/2018/TT-BTC, đơn vị có trách nhiệm quản lý chặt chẽ cả về mặt hiện vật lẫn giá trị của toàn bộ tài sản hiện có. Điều 11 của Thông tư này nhấn mạnh sự cần thiết phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và các pháp luật liên quan khác.

Các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp được giao quản lý tài sản cố định phải lập thẻ tài sản cố định cho từng tài sản cụ thể và thực hiện công tác kế toán đầy đủ theo đúng chế độ kế toán hiện hành. Bên cạnh đó, việc kiểm kê tài sản cố định hiện có trên thực tế cần được tiến hành định kỳ hàng năm. Kết quả kiểm kê sẽ được báo cáo lên cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp để thực hiện điều chỉnh số liệu giữa sổ kế toán và thực tế nếu có sự chênh lệch. Ngoài ra, các đơn vị cũng có trách nhiệm thực hiện báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình quản lý và sử dụng tài sản theo yêu cầu của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Một điểm quan trọng khác là ngay cả khi tài sản cố định đã được tính hao mòn hoặc khấu hao hết giá trị theo thời gian quy định nhưng vẫn còn khả năng sử dụng, đơn vị vẫn phải tiếp tục quản lý tài sản đó về mặt hiện vật và theo dõi trên sổ sách cho đến khi có quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.

Quy định về tính hao mòn và trích khấu hao tài sản cố định

Thông tư 45/2018/TT-BTC đưa ra quy định cụ thể về việc tính hao mòn và trích khấu hao tài sản cố định, phân biệt rõ ràng phạm vi và nguyên tắc áp dụng cho từng loại hình đơn vị và từng mục đích sử dụng tài sản. Về cơ bản, tất cả tài sản cố định hiện có tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanh nghiệp do Nhà nước quản lý đều phải tính hao mòn, trừ một số trường hợp được miễn trừ đặc biệt.

Các trường hợp không phải tính hao mòn hoặc khấu hao bao gồm quyền sử dụng đất phải xác định giá trị để tính vào tài sản theo Nghị định 151/2017/NĐ-CP, tài sản cố định đặc thù (trừ thương hiệu đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng vào liên doanh, liên kết), tài sản đang thuê sử dụng, tài sản bảo quản, giữ hộ Nhà nước, tài sản đã tính đủ hao mòn hoặc khấu hao hết nhưng vẫn dùng được, và tài sản chưa tính hết hao mòn/khấu hao nhưng đã hỏng không sử dụng được. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, một số loại tài sản được quy định phải trích khấu hao, đặc biệt là tài sản sử dụng vào hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết hoặc tài sản tại đơn vị tự chủ chi thường xuyên và chi đầu tư. Sự phân biệt giữa hao mòn và khấu hao cùng phạm vi áp dụng giúp đơn vị hạch toán chính xác chi phí liên quan đến việc sử dụng tài sản.

Nguyên tắc tính hao mòn và trích khấu hao

Việc tính hao mòn tài sản cố định theo Thông tư 45/2018/TT-BTC được thực hiện định kỳ mỗi năm một lần, vào tháng 12, trước khi đơn vị tiến hành khóa sổ kế toán cuối năm tài chính. Phạm vi tính hao mòn bao gồm tất cả các tài sản cố định hiện có tại đơn vị tính đến ngày 31 tháng 12 của năm đó, trừ những trường hợp được miễn trừ như đã nêu. Điều này đảm bảo rằng giá trị hao mòn của tài sản được cập nhật hàng năm để phản ánh sự giảm giá trị do quá trình sử dụng hoặc ảnh hưởng của thời gian.

Đối với việc trích khấu hao tài sản cố định, nguyên tắc áp dụng khác nhau tùy thuộc vào loại hình đơn vị và mục đích sử dụng tài sản. Tài sản cố định tại đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, hoặc tài sản phải tính đủ khấu hao vào giá dịch vụ theo quy định, sẽ thực hiện chế độ trích khấu hao theo quy định áp dụng cho doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với tài sản cố định của đơn vị sự nghiệp công lập được sử dụng vào hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết mà không thành lập pháp nhân mới, việc trích khấu hao được thực hiện từ ngày tài sản bắt đầu được sử dụng cho các hoạt động này và dừng trích khấu hao sau ngày kết thúc việc sử dụng đó. Chi phí khấu hao phát sinh cần được phân bổ phù hợp cho từng loại hoạt động (sự nghiệp, kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết) để hạch toán chính xác chi phí hoạt động tương ứng. Trong trường hợp bàn giao, chia tách, sáp nhập đơn vị, hao mòn tài sản của năm tài chính có sự kiện sẽ được tính tại đơn vị tiếp nhận tài sản. Nếu tài sản được kiểm kê, đánh giá lại, hao mòn sẽ được tính trên cơ sở giá trị đánh giá lại từ năm tài chính có quyết định đánh giá lại.

Xác định thời gian sử dụng và tỷ lệ hao mòn

Thông tư 45/2018/TT-BTC cung cấp khung thời gian sử dụng và tỷ lệ hao mòn cho từng loại tài sản cố định hữu hình trong Phụ lục kèm theo. Điều này giúp các đơn vị có căn cứ để tính toán mức hao mòn hàng năm một cách thống nhất. Tuy nhiên, Thông tư cũng xem xét các yếu tố đặc thù. Đối với tài sản cố định hữu hình được sử dụng tại những địa bàn có điều kiện thời tiết hoặc môi trường khắc nghiệt, ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hao mòn của tài sản, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ban hành quy định về thời gian sử dụng khác với quy định chung, sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Tài chính hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp. Việc điều chỉnh tỷ lệ hao mòn trong trường hợp này không được vượt quá 20% so với tỷ lệ quy định trong Phụ lục.

Đối với tài sản cố định được giao, điều chuyển mà trước đó chưa được theo dõi trên sổ kế toán, hoặc tài sản kiểm kê phát hiện thừa, đơn vị có trách nhiệm xác định lại thời gian sử dụng và tỷ lệ hao mòn của tài sản đó làm cơ sở cho việc kế toán. Đối với tài sản cố định vô hình, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ban hành Danh mục, thời gian sử dụng và tỷ lệ hao mòn cụ thể. Tuy nhiên, Thông tư quy định khung chung là thời gian sử dụng của một tài sản cố định vô hình không được thấp hơn 4 năm và không cao hơn 50 năm. Trường hợp cần thiết phải quy định thời gian sử dụng dưới 4 năm, đơn vị cần có ý kiến thống nhất của Bộ quản lý chuyên ngành liên quan.

Phương pháp tính hao mòn và trích khấu hao

Phương pháp tính hao mòn tài sản cố định được quy định tại Điều 15 của Thông tư 45/2018/TT-BTC dựa trên phương pháp đường thẳng, đảm bảo tính đơn giản và dễ áp dụng. Mức hao mòn hàng năm của từng tài sản cố định cụ thể được xác định bằng cách lấy Nguyên giá của tài sản cố định nhân với Tỷ lệ tính hao mòn hàng năm (tính theo %).

Công thức tính mức hao mòn hàng năm cho từng tài sản là: Mức hao mòn hàng năm = Nguyên giá x Tỷ lệ tính hao mòn (%/năm).
Vào cuối mỗi năm tài chính, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sẽ tổng hợp số liệu để tính tổng số hao mòn của tất cả tài sản cố định hiện có. Số hao mòn lũy kế tính đến năm (n) được xác định bằng số hao mòn đã tính đến năm (n-1) cộng với số hao mòn tăng trong năm (n) trừ đi số hao mòn giảm trong năm (n). Đối với tài sản cố định có sự thay đổi về nguyên giá, đơn vị sẽ căn cứ vào nguyên giá và giá trị còn lại sau khi điều chỉnh, cùng với tỷ lệ hao mòn quy định để tiếp tục tính hao mòn cho các năm sử dụng còn lại. Đối với tài sản cố định tiếp nhận từ bàn giao, chia tách, sáp nhập, giải thể, mức hao mòn hàng năm được tính theo công thức trên, sử dụng nguyên giá được xác định theo quy định khi tiếp nhận và tỷ lệ hao mòn tương ứng. Số hao mòn cho năm cuối cùng thuộc thời gian sử dụng của tài sản được xác định là hiệu số giữa nguyên giá và tổng số hao mòn lũy kế đã tính cho tài sản đó.

Về quy định trích khấu hao tại Điều 16, Thông tư 45/2018/TT-BTC áp dụng linh hoạt tùy thuộc vào loại hình đơn vị sự nghiệp công lập và mục đích sử dụng tài sản. Đối với tài sản cố định tại đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, hoặc tài sản phải tính đủ khấu hao vào giá dịch vụ, hoặc tài sản sử dụng toàn bộ thời gian vào hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết, đơn vị thực hiện chế độ trích khấu hao theo quy định áp dụng cho doanh nghiệp và phải thông báo thông tin về tỷ lệ, số khấu hao hàng năm cho cơ quan thuế. Tỷ lệ khấu hao có thể được điều chỉnh trong một số trường hợp đặc biệt để phù hợp với hoạt động của đơn vị hoặc lộ trình tính giá dịch vụ.

Đối với tài sản cố định vừa sử dụng vào hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết, vừa sử dụng vào hoạt động theo chức năng nhiệm vụ, đơn vị tính tổng giá trị hao mòn theo tỷ lệ hao mòn của Thông tư, sau đó phân bổ giá trị này thành số khấu hao (cho phần sử dụng vào kinh doanh) và số hao mòn (cho phần sử dụng vào chức năng nhiệm vụ) dựa trên thời gian, tần suất sử dụng hoặc khối lượng công việc hoàn thành. Cả số khấu hao và số hao mòn đều được thông báo cho cơ quan thuế. Số khấu hao được hạch toán vào chi phí của hoạt động kinh doanh/cho thuê/liên doanh/liên kết, còn số hao mòn được hạch toán kế toán hao mòn tài sản cố định. Số tiền trích khấu hao được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị; riêng trường hợp tài sản đầu tư từ vốn vay/huy động, khấu hao ưu tiên để trả nợ gốc và lãi. Đối với thương hiệu đơn vị sự nghiệp công lập góp vốn liên doanh, liên kết, giá trị thương hiệu được phê duyệt sẽ được phân bổ tương ứng với thời gian góp vốn để hạch toán vào chi phí cung ứng dịch vụ.

Điều khoản chuyển tiếp và hiệu lực thi hành

Thông tư 45/2018/TT-BTC có những quy định về điều khoản chuyển tiếp để đảm bảo sự liền mạch khi áp dụng các quy định mới thay thế Thông tư trước đó. Cụ thể, đối với những tài sản cố định có tỷ lệ hao mòn được quy định trong Thông tư này khác so với tỷ lệ hao mòn đã quy định tại Thông tư số 162/2014/TT-BTC trước đây, thì kể từ năm tài chính 2018, đơn vị sẽ xác định mức hao mòn hàng năm của tài sản đó dựa trên nguyên giá hiện có và tỷ lệ hao mòn mới theo Thông tư 45/2018/TT-BTC để ghi sổ kế toán. Điều này tránh việc phải tính lại toàn bộ hao mòn lũy kế từ đầu, mà chỉ áp dụng tỷ lệ mới cho các năm tiếp theo dựa trên nguyên giá gốc.

Bên cạnh đó, đối với các tài sản cố định đã có quyết định giao, điều chuyển trước ngày Thông tư 45/2018/TT-BTC có hiệu lực (ngày 02 tháng 7 năm 2018), mà trước khi giao, điều chuyển tài sản chưa được theo dõi trên sổ kế toán hoặc khi bàn giao chưa thực hiện đánh giá lại giá trị tài sản theo quy định cũ, thì đơn vị tiếp nhận tài sản có trách nhiệm thực hiện đánh giá lại giá trị tài sản theo đúng phương pháp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 7 của Thông tư 45/2018/TT-BTC. Sau khi đánh giá lại, đơn vị sẽ sử dụng giá trị này làm nguyên giá để ghi sổ kế toán và xác định thời gian sử dụng cùng tỷ lệ hao mòn theo quy định mới tại khoản 1 Điều 14 Thông tư 45/2018/TT-BTC làm cơ sở để tiếp tục kế toán tài sản cố định đó.

Thông tư 45/2018/TT-BTC chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 02 tháng 7 năm 2018 và được áp dụng cho các công tác quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định kể từ năm tài chính 2018. Thông tư này thay thế hoàn toàn Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 06 tháng 11 năm 2014 của Bộ Tài chính. Việc áp dụng các quy định mới đòi hỏi sự nghiên cứu và thực hiện nghiêm túc từ các đơn vị để đảm bảo tuân thủ pháp luật trong quản lý tài sản công. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc phát sinh, các đơn vị được khuyến khích phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để được hướng dẫn và giải quyết.

Câu hỏi thường gặp về Thông tư 45/2018/TT-BTC

Những loại tài sản cố định nào phải tính hao mòn hoặc trích khấu hao theo Thông tư 45/2018/TT-BTC?

Theo Thông tư 45/2018/TT-BTC, hầu hết tài sản cố định hiện có tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản cố định do Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý đều phải tính hao mòn. Riêng đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản sử dụng vào hoạt động kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết, hoặc tài sản tại đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, hoặc tài sản phải tính đủ khấu hao vào giá dịch vụ thì phải trích khấu hao theo quy định áp dụng cho doanh nghiệp hoặc theo tỷ lệ được phân bổ.

Có những loại tài sản cố định nào không phải tính hao mòn hoặc khấu hao?

Thông tư 45/2018/TT-BTC liệt kê một số trường hợp ngoại lệ không phải tính hao mòn hoặc khấu hao, bao gồm: quyền sử dụng đất xác định giá trị để tính vào tài sản theo Nghị định 151/2017/NĐ-CP; tài sản cố định đặc thù (trừ thương hiệu đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng vào liên doanh, liên kết); tài sản đang thuê sử dụng; tài sản bảo quản, giữ hộ Nhà nước; tài sản đã tính đủ hao mòn hoặc khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng được; và tài sản chưa tính hết hao mòn hoặc khấu hao hết giá trị nhưng đã hỏng không tiếp tục sử dụng được.

Nguyên giá tài sản cố định được xác định như thế nào khi mua sắm theo Thông tư 45/2018/TT-BTC?

Nguyên giá tài sản cố định hình thành từ mua sắm được xác định bằng giá trị ghi trên hóa đơn trừ đi các khoản chiết khấu thương mại hoặc giảm giá (nếu có), cộng thêm các chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử (sau khi trừ thu hồi từ sản phẩm thử), các loại thuế (không hoàn lại), phí, lệ phí và các chi phí khác phát sinh đến thời điểm tài sản sẵn sàng sử dụng.

Khi tài sản cố định đã tính đủ hao mòn thì đơn vị có được ngừng quản lý không?

Không. Theo quy định tại Điều 11 Thông tư 45/2018/TT-BTC, ngay cả khi tài sản cố định đã tính đủ hao mòn hoặc đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng được, cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục quản lý tài sản đó chặt chẽ về mặt hiện vật và theo dõi trên sổ kế toán cho đến khi có quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.

Số tiền trích khấu hao tài sản cố định được quản lý và sử dụng ra sao?

Số tiền trích khấu hao đối với tài sản cố định tại đơn vị sự nghiệp công lập được quy định trích khấu hao theo Thông tư 45/2018/TT-BTC được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị. Tuy nhiên, nếu tài sản cố định được đầu tư hoặc mua sắm từ nguồn vốn vay hoặc vốn huy động, số tiền trích khấu hao sẽ ưu tiên được sử dụng để trả nợ gốc và lãi của các khoản vay/huy động đó. Số tiền còn lại (nếu có) sau khi trả nợ sẽ được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.

Việc nắm vững các quy định về quản lý, tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo Thông tư 45/2018/TT-BTC là nền tảng quan trọng giúp các đơn vị nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công và đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành. Edupace hy vọng bài viết này cung cấp thông tin hữu ích cho bạn đọc.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *