Nghị định 122/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý thuế đánh dấu bước tiến quan trọng trong cải cách hành chính thuế tại Việt Nam. Văn bản pháp luật này ra đời nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế. Nghị định tập trung phân định rõ ràng thẩm quyền giữa trung ương và địa phương, góp phần hiện đại hóa hệ thống thuế.

Mục đích và nguyên tắc phân quyền, phân cấp quản lý thuế

Việc ban hành Nghị định 122/2025/NĐ-CP nhằm mục đích chính là quy định chi tiết thẩm quyền, trình tự và thủ tục thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý thuế đã được luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định. Nghị định này điều chỉnh các quy định hiện hành để đảm bảo thực hiện hiệu quả việc phân quyền và phân cấp.

Các nguyên tắc cốt lõi chi phối việc phân cấp và phân quyền theo Nghị định 122/2025/NĐ-CP rất rõ ràng. Thứ nhất, phải đảm bảo sự phù hợp với Hiến pháp cũng như các nguyên tắc và quy định về phân quyền, phân cấp đã nêu trong Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Nguyên tắc thứ hai nhấn mạnh việc phân cấp triệt để các nhiệm vụ từ cơ quan nhà nước ở trung ương xuống chính quyền địa phương. Điều này đồng thời phải đảm bảo thẩm quyền quản lý thống nhất của Chính phủ, quyền điều hành của người đứng đầu Chính phủ đối với lĩnh vực quản lý thuế và phát huy tính chủ động, sáng tạo cùng trách nhiệm của chính quyền địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quản lý.

Nguyên tắc thứ ba định hướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ tập trung vào nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô. Bao gồm xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch một cách đồng bộ và thống nhất, đóng vai trò kiến tạo và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.

Nguyên tắc thứ tư thúc đẩy việc phân quyền, phân cấp và phân định rõ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Việc phân định rõ thẩm quyền chung của Ủy ban nhân dân và thẩm quyền riêng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cần đảm bảo sự phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn và năng lực thực tế của cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Nguyên tắc thứ năm yêu cầu thực hiện phân quyền, phân cấp giữa các ngành, lĩnh vực liên quan phải đảm bảo tính đồng bộ, tổng thể, liên thông. Mục tiêu là tránh bỏ sót, chồng lấn hoặc giao thoa nhiệm vụ, đồng thời đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động bình thường, liên tục, thông suốt của các cơ quan, không để gián đoạn công việc hay trùng lặp chức năng.

Nguyên tắc thứ sáu đảm bảo quyền con người, quyền công dân được tôn trọng. Mọi quy định phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc tiếp cận thông tin, thực hiện các quyền, nghĩa vụ và thủ tục pháp luật, tránh làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, người dân và doanh nghiệp.

Nguyên tắc thứ bảy đảm bảo việc thực hiện Nghị định 122/2025/NĐ-CP không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cuối cùng, nguyên tắc thứ tám quy định nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ được phân quyền, phân cấp sẽ do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định hiện hành.

Phân quyền trong hoạt động khai thuế

Nghị định 122/2025/NĐ-CP làm rõ các quy định liên quan đến hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp và địa điểm nộp hồ sơ khai thuế. Cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ là người hướng dẫn về việc người nộp thuế không phải nộp các chứng từ trong hồ sơ khai thuế, nộp thuế, hồ sơ hoàn thuế và các hồ sơ thuế khác mà cơ quan quản lý nhà nước đã có. Quy định này căn cứ vào tình hình thực tế và điều kiện trang bị công nghệ thông tin, theo tinh thần của Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14.

Về các loại hồ sơ khai thuế và chu kỳ kê khai, Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng là người chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết. Điều này bao gồm quy định về hồ sơ khai thuế chung, loại thuế khai theo tháng, quý, năm, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế, và khai quyết toán thuế. Bên cạnh đó, hướng dẫn cũng áp dụng cho việc khai các khoản phải nộp về phí, lệ phí do cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện thu, cùng với việc kê khai, cung cấp, trao đổi, sử dụng thông tin đối với báo cáo lợi nhuận liên quốc gia và tiêu chí xác định người nộp thuế để khai thuế theo quý.

Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với một số loại thuế và khoản thu đặc thù cũng được Nghị định 122 giao cho Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn. Các loại thuế và khoản thu này bao gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuê mặt nước, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, lệ phí trước bạ, lệ phí môn bài, các khoản thu vào ngân sách nhà nước theo quy định về quản lý sử dụng tài sản công, và báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.

Địa điểm nộp hồ sơ khai thuế cho các trường hợp phức tạp cũng được quy định chi tiết. Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn cụ thể địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với người nộp thuế có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, người nộp thuế thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều địa bàn. Hướng dẫn này cũng áp dụng cho người nộp thuế có phát sinh nghĩa vụ thuế đối với các loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh, các khoản thu từ đất, cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, quyết toán thuế thu nhập cá nhân, và người nộp thuế thực hiện khai thuế thông qua giao dịch điện tử, cùng các trường hợp cần thiết khác.

Quản lý nợ thuế: Khoanh nợ và xóa nợ

Quy định về thủ tục, hồ sơ, và thời gian khoanh nợ đối với các trường hợp được khoanh nợ theo Luật Quản lý thuế cũng là nội dung được phân quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn. Điều này nhằm đảm bảo quy trình khoanh nợ được thực hiện minh bạch và thống nhất trên phạm vi cả nước.

Đặc biệt, Nghị định 122/2025/NĐ-CP quy định rõ thẩm quyền quyết định xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc trường hợp được xóa nợ theo Luật Quản lý thuế mà có khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt từ 15.000.000.000 đồng trở lên, Bộ trưởng Bộ Tài chính là người có thẩm quyền quyết định việc xóa nợ này.

Trình tự, thủ tục đề nghị xóa nợ tiền thuế từ 15 tỷ đồng trở lên được quy định theo nhiều cấp. Cơ quan thuế cơ sở quản lý trực tiếp người nộp thuế sẽ là đơn vị lập và gửi hồ sơ đề nghị xóa nợ lên cơ quan thuế cấp tỉnh để thẩm định. Nếu hồ sơ không thuộc đối tượng xóa nợ, cơ quan thuế cấp tỉnh sẽ thông báo lại. Nếu thuộc đối tượng, cơ quan thuế cấp tỉnh lập văn bản và hồ sơ gửi Cục Thuế để tiếp tục thẩm định.

Cục Thuế có trách nhiệm thẩm định hồ sơ đề nghị xóa nợ từ cấp tỉnh gửi lên. Sau khi thẩm định, nếu không thuộc đối tượng xóa nợ, Cục Thuế sẽ thông báo cho cơ quan thuế cấp tỉnh. Trong trường hợp thuộc đối tượng xóa nợ, Cục Thuế sẽ dự thảo quyết định xóa nợ để trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét và ban hành quyết định cuối cùng. Đối với các trường hợp cơ quan thuế cấp tỉnh quản lý trực tiếp người nộp thuế đề nghị xóa nợ, quy trình cũng tương tự: hồ sơ được gửi thẳng lên Cục Thuế để thẩm định và trình Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Quy định về hóa đơn điện tử và APA

Trong lĩnh vực hóa đơn điện tử, Nghị định 122/2025/NĐ-CP cũng phân quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết về dịch vụ hóa đơn điện tử. Điều này bao gồm việc quy định các trường hợp người nộp thuế được sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế mà không phải trả tiền dịch vụ, các trường hợp phải trả tiền dịch vụ khi sử dụng hóa đơn điện tử có mã, và các trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ về hóa đơn điện tử.

Về cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết (APA – Advance Pricing Arrangement), Nghị định 122 quy định rõ thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Bộ trưởng sẽ cho ý kiến và quyết định ký nội dung APA đối với các thỏa thuận song phương (giữa Việt Nam và một quốc gia khác) hoặc đa phương (giữa Việt Nam và nhiều quốc gia) có sự tham gia của cơ quan thuế nước ngoài.

Trình tự, thủ tục thực hiện APA song phương hoặc đa phương theo Nghị định 122/2025/NĐ-CP cũng được quy định cụ thể. Cục Thuế là đơn vị trực tiếp trao đổi và đàm phán nội dung APA với người nộp thuế và cơ quan thuế nước ngoài. Cục Thuế có trách nhiệm xây dựng phương án đàm phán và xin ý kiến các bộ ngành liên quan nếu cần thiết, trước khi trình Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt phương án này.

Sau khi phương án đàm phán được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt, Cục Thuế sẽ tiến hành trao đổi, đàm phán chính thức với người nộp thuế và cơ quan thuế nước ngoài dựa trên phương án đã duyệt. Trên cơ sở kết quả đàm phán, Cục Thuế sẽ xây dựng dự thảo thỏa thuận APA và trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ký kết. Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng là người có thẩm quyền quyết định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của các thỏa thuận APA song phương hoặc đa phương này.

Trách nhiệm của Bộ Tài chính và hiệu lực thi hành

Để đảm bảo việc triển khai hiệu quả các quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý thuế, Nghị định 122/2025/NĐ-CP giao trách nhiệm cụ thể cho Bộ Tài chính. Bộ Tài chính có nhiệm vụ rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để đảm bảo sự đồng bộ và phù hợp với các quy định tại Nghị định này.

Ngoài ra, Bộ Tài chính còn chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo, tập huấn, và hướng dẫn nghiệp vụ cho toàn bộ hệ thống cơ quan quản lý thuế trên cả nước. Điều này nhằm đảm bảo cán bộ thuế các cấp nắm vững và thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đã được phân cấp, phân quyền theo tinh thần của Nghị định. Công tác tập huấn nghiệp vụ là yếu tố then chốt để các quy định mới đi vào thực tiễn một cách suôn sẻ.

Nghị định 122/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Tuy nhiên, Nghị định này có thời hạn hiệu lực cụ thể, sẽ hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027. Việc quy định thời hạn hiệu lực nhằm mục đích thí điểm và đánh giá hiệu quả của các quy định về phân quyền, phân cấp.

Có một số trường hợp ngoại lệ đối với thời hạn hết hiệu lực này. Nếu Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ và được Quốc hội quyết định kéo dài thời gian áp dụng toàn bộ hoặc một phần của Nghị định, thì các quy định tương ứng sẽ tiếp tục có hiệu lực. Ngoài ra, nếu các văn bản quy phạm pháp luật khác như luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định, nghị quyết của Chính phủ, hoặc quyết định của Thủ tướng Chính phủ được thông qua hoặc ban hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và có hiệu lực trước ngày 01 tháng 3 năm 2027 có quy định khác về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước, trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này, thì quy định tương ứng trong Nghị định 122 sẽ hết hiệu lực tại thời điểm các văn bản đó có hiệu lực. Trong thời gian Nghị định 122 còn hiệu lực, nếu có sự khác biệt giữa các quy định về thẩm quyền, trách nhiệm, trình tự, thủ tục trong Nghị định này với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác, thì thực hiện theo quy định tại Nghị định 122/2025/NĐ-CP.

Các Câu Hỏi Thường Gặp về Nghị định 122/2025/NĐ-CP

Nghị định 122/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ khi nào?

Nghị định 122/2025/NĐ-CP bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Mục đích chính của Nghị định là gì?

Mục đích chính của Nghị định 122/2025/NĐ-CP là quy định chi tiết việc phân quyền và phân cấp trong lĩnh vực quản lý thuế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo thuận lợi cho người nộp thuế, dựa trên các luật và văn bản pháp luật hiện hành.

Ai có thẩm quyền xóa nợ thuế theo Nghị định này?

Bộ trưởng Bộ Tài chính có thẩm quyền quyết định xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có khoản nợ từ 15.000.000.000 đồng trở lên.

Cơ chế thỏa thuận trước về giá tính thuế (APA) được quy định ra sao?

Nghị định 122/2025/NĐ-CP quy định Bộ trưởng Bộ Tài chính là người cho ý kiến và quyết định ký kết các thỏa thuận APA song phương hoặc đa phương. Cục Thuế thực hiện đàm phán và trình Bộ trưởng phê duyệt.

Khi nào Nghị định này hết hiệu lực?

Nghị định 122/2025/NĐ-CP dự kiến hết hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027, trừ trường hợp được Quốc hội quyết định kéo dài hoặc có văn bản pháp luật khác thay thế trước thời điểm đó.

Như vậy, Nghị định 122/2025/NĐ-CP mang đến nhiều điểm mới quan trọng, hứa hẹn nâng cao hiệu quả quản lý thuế và đơn giản hóa thủ tục cho người nộp thuế. Việc hiểu rõ các quy định này là cần thiết cho mọi tổ chức, cá nhân liên quan đến lĩnh vực thuế. Tại Edupace, chúng tôi luôn cập nhật và chia sẻ thông tin pháp luật mới nhất để hỗ trợ bạn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *