Ngày 21 tháng 3 năm 2023, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT, quy định chế độ báo cáo định kỳ trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ. Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2023, Thông tư này mang lại sự rõ ràng, minh bạch cho các quy định về báo cáo định kỳ. Hãy cùng Edupace khám phá những nội dung chính của văn bản quan trọng này.
Mở đầu văn bản Thông tư 02/2023/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông
Phạm vi và Đối tượng áp dụng của Thông tư 02/2023/TT-BTTTT
Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT tập trung điều chỉnh về chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông. Đây là các báo cáo được yêu cầu thực hiện theo một chu kỳ nhất định (hàng tháng, hàng quý, 6 tháng, hàng năm) và được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ ban hành hoặc triển khai. Mục tiêu chính là thu thập thông tin tổng hợp phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.
Tuy nhiên, Thông tư này cũng nêu rõ những loại hình báo cáo không thuộc phạm vi điều chỉnh. Cụ thể, các loại hình báo cáo mật, báo cáo nội bộ chỉ sử dụng trong phạm vi hẹp của một cơ quan hoặc đơn vị, và báo cáo thống kê (đã có các Thông tư riêng điều chỉnh như Thông tư số 03/2022/TT-BTTTT và Thông tư số 04/2022/TT-BTTTT) sẽ không bị chi phối bởi Thông tư 02/2023/TT-BTTTT. Điều này giúp phân định rõ ràng phạm vi áp dụng, tránh chồng chéo với các quy định hiện hành khác.
Đối tượng áp dụng của Thông tư 02/2023/TT-BTTTT rất rộng, bao gồm cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân liên quan. Các cơ quan hành chính nhà nước cùng đội ngũ công chức, viên chức có vai trò trực tiếp trong việc ban hành hoặc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông đều là đối tượng chịu sự điều chỉnh. Bên cạnh đó, các tổ chức và cá nhân khác có trách nhiệm thực hiện báo cáo định kỳ theo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực Thông tin và Truyền thông đã có hiệu lực thi hành cũng nằm trong phạm vi áp dụng của Thông tư này.
Giải thích các thuật ngữ quan trọng trong Thông tư
Để đảm bảo sự hiểu thống nhất và chính xác khi áp dụng, Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT đã đưa ra định nghĩa rõ ràng cho một số thuật ngữ cốt lõi được sử dụng xuyên suốt văn bản. Việc hiểu đúng các khái niệm này là nền tảng quan trọng để các đối tượng liên quan thực hiện chế độ báo cáo theo đúng quy định.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Mơ Thấy Mình Dập Lửa: Giải Mã Điềm Báo và Ý Nghĩa Sâu Sắc
- Nằm Mơ Thấy Mất Bông Tai Vàng: Điềm Báo Gì?
- Mơ Thấy Xác Chết Trôi: Giải Mã Bí Ẩn Và Con Số May Mắn
- Tuổi Đinh Tỵ 1977: Vận Mệnh, Tài Lộc và Tình Duyên Sâu Sắc
- 23h Việt Nam Là Mấy Giờ Ở Thổ Nhĩ Kỳ
Thuật ngữ “chế độ báo cáo định kỳ” được giải thích là chế độ báo cáo được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông. Đặc điểm nhận diện của loại hình báo cáo này là việc quy định rõ ràng các yêu cầu về nội dung, đối tượng, cơ quan nhận, tần suất, thời gian chốt số liệu, thời hạn gửi, hình thức, phương thức và mẫu đề cương. Quan trọng nhất, chế độ báo cáo định kỳ được thực hiện theo một chu kỳ xác định, lặp lại nhiều lần, nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin tổng hợp của các cấp có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng làm rõ khái niệm “Tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ”. Đây là những đối tượng cụ thể có trách nhiệm thực hiện báo cáo định kỳ theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông đã có hiệu lực thi hành. Việc xác định rõ đối tượng này giúp các cơ quan nhà nước biết được ai cần gửi báo cáo và các tổ chức, cá nhân biết được nghĩa vụ của mình.
Các chế độ báo cáo định kỳ theo quy định
Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT hệ thống hóa và quy định các loại chế độ báo cáo định kỳ nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông. Có hai nhóm chính của chế độ báo cáo định kỳ được liệt kê trong Thông tư này, phản ánh sự đa dạng và phức tạp của các hoạt động trong ngành.
Nhóm thứ nhất là các chế độ báo cáo định kỳ trực tiếp thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông do Bộ ban hành. Thông tư này chỉ rõ rằng nhóm này bao gồm 86 chỉ tiêu báo cáo được liệt kê chi tiết tại Phụ lục I và 38 chế độ báo cáo cụ thể được quy định tại Phụ lục II đi kèm Thông tư. Việc có danh mục rõ ràng các chỉ tiêu và chế độ báo cáo giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân dễ dàng tra cứu và thực hiện nghĩa vụ báo cáo của mình theo đúng yêu cầu.
Nhóm thứ hai là các chế độ báo cáo định kỳ được ban hành theo thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc các bộ, cơ quan ngang bộ khác, nhưng lại quy định Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ có trách nhiệm triển khai, thực hiện. Đối với nhóm này, Thông tư 02/2023/TT-BTTTT quy định rằng các chế độ báo cáo này phải được các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ thực hiện công bố công khai theo một quy trình cụ thể được nêu tại Điều 9 của Thông tư. Điều này đảm bảo tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin về các yêu cầu báo cáo liên ngành.
Nội dung và thành phần của một báo cáo định kỳ
Để một báo cáo định kỳ được coi là đầy đủ và hợp lệ theo quy định của Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT, nó cần bao gồm các thành phần nội dung bắt buộc. Việc quy định rõ ràng các yếu tố cần có trong báo cáo giúp đảm bảo rằng thông tin thu thập được là chính xác, đầy đủ và có thể tổng hợp, phân tích phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Nội dung chính của một báo cáo định kỳ bắt buộc phải có: tên của báo cáo để dễ dàng nhận diện; nội dung yêu cầu cụ thể mà báo cáo cần đề cập; xác định rõ đối tượng nào có trách nhiệm thực hiện báo cáo đó; cơ quan nào sẽ là nơi tiếp nhận báo cáo; tần suất thực hiện báo cáo (ví dụ: hàng tháng, hàng quý); thời gian chốt số liệu mà báo cáo đề cập đến; thời hạn cuối cùng để gửi báo cáo; hình thức và phương thức mà báo cáo được gửi đi và tiếp nhận; và cuối cùng là mẫu đề cương chi tiết của báo cáo.
Ngoài các thành phần bắt buộc kể trên, Thông tư 02/2023/TT-BTTTT cũng linh hoạt cho phép bổ sung các thành phần khác nếu thấy cần thiết. Trong trường hợp báo cáo liên quan nhiều đến số liệu, có thể bổ sung biểu mẫu số liệu báo cáo đi kèm. Hơn nữa, để giúp các đối tượng thực hiện báo cáo dễ dàng hơn, có thể thêm hướng dẫn quy trình thực hiện báo cáo. Những thành phần bổ sung này giúp nâng cao chất lượng và tính khả thi trong việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ.
Quy định chi tiết về thời hạn gửi báo cáo
Một trong những điểm quan trọng nhất của Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT là việc quy định cụ thể và chi tiết về thời hạn gửi báo cáo, đảm bảo tính kịp thời của thông tin phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của Bộ Thông tin và Truyền thông. Thông tư đưa ra các mốc thời gian rõ ràng cho từng loại tần suất báo cáo và cho từng cấp độ gửi nhận báo cáo.
Đối với báo cáo định kỳ hàng tháng, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân liên quan phải gửi báo cáo đến cơ quan, đơn vị nhận báo cáo chậm nhất vào ngày 15 của tháng báo cáo. Sau đó, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo có trách nhiệm tổng hợp và gửi về Văn phòng Bộ chậm nhất ngày 16 của tháng báo cáo. Các Sở Thông tin và Truyền thông cũng gửi báo cáo về Bộ (các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ hoặc Văn phòng Bộ) chậm nhất ngày 16. Cuối cùng, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo từ Sở Thông tin và Truyền thông phải gửi về Văn phòng Bộ chậm nhất ngày 17. Văn phòng Bộ hoàn thành tổng hợp để báo cáo Lãnh đạo Bộ chậm nhất ngày 18 của tháng báo cáo.
Các thời hạn này thay đổi tùy theo tần suất báo cáo. Đối với báo cáo định kỳ hàng quý, thời hạn gửi từ đối tượng thực hiện đến cơ quan nhận là chậm nhất ngày 06 của tháng cuối quý. Từ cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo gửi về Văn phòng Bộ là chậm nhất ngày 08 của tháng cuối quý. Từ các Sở Thông tin và Truyền thông gửi về Bộ là chậm nhất ngày 08 của tháng cuối quý. Từ các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo của Sở Thông tin và Truyền thông gửi về Văn phòng Bộ là chậm nhất ngày 09 của tháng cuối quý. Văn phòng Bộ hoàn thành tổng hợp để báo cáo Lãnh đạo Bộ chậm nhất ngày 10 của tháng cuối quý.
Đối với báo cáo định kỳ 06 tháng, thời hạn gửi từ đối tượng thực hiện đến cơ quan nhận là chậm nhất ngày 06 tháng 06. Từ cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo gửi về Văn phòng Bộ là chậm nhất ngày 08 tháng 06. Từ các Sở Thông tin và Truyền thông gửi về Bộ là chậm nhất ngày 08 tháng 06. Từ các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo của Sở Thông tin và Truyền thông gửi về Văn phòng Bộ là chậm nhất ngày 09 tháng 06. Văn phòng Bộ hoàn thành tổng hợp để báo cáo Lãnh đạo Bộ chậm nhất ngày 10 tháng 06.
Cuối cùng, đối với báo cáo định kỳ hàng năm, thời hạn gửi từ đối tượng thực hiện đến cơ quan nhận là chậm nhất ngày 25 tháng 11. Từ cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo gửi về Văn phòng Bộ là chậm nhất ngày 27 tháng 11. Từ các Sở Thông tin và Truyền thông gửi về Bộ là chậm nhất ngày 27 tháng 11. Từ các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ nhận báo cáo của Sở Thông tin và Truyền thông gửi về Văn phòng Bộ là chậm nhất ngày 29 tháng 11. Văn phòng Bộ hoàn thành tổng hợp để báo cáo Lãnh đạo Bộ chậm nhất ngày 30 tháng 11. Những mốc thời gian chi tiết này là cơ sở để các bên liên quan tuân thủ, đảm bảo luồng thông tin thông suốt và kịp thời.
Hình thức và phương thức gửi báo cáo
Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT khuyến khích mạnh mẽ việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác báo cáo, đồng thời vẫn duy trì các phương thức truyền thống cho phù hợp với điều kiện thực tế. Thông tư quy định rõ các hình thức và phương thức gửi báo cáo định kỳ theo thứ tự ưu tiên, nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước.
Hình thức báo cáo được ưu tiên hàng đầu là báo cáo bằng văn bản điện tử. Loại hình này yêu cầu sử dụng chữ ký số của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, đơn vị để đảm bảo tính pháp lý và xác thực. Kèm theo văn bản điện tử là các file dữ liệu ở định dạng phổ biến như word, excel hoặc các định dạng khác theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành chế độ báo cáo cụ thể. Hình thức này mang lại nhiều lợi ích về tốc độ, khả năng lưu trữ và tổng hợp dữ liệu. Đối với các cơ quan, tổ chức chưa kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, Thông tư cho phép gửi báo cáo bằng văn bản giấy. Văn bản giấy này phải có chữ ký của người có thẩm quyền và đóng dấu theo quy định, đảm bảo tính chính thức của tài liệu.
Về phương thức gửi báo cáo, Thông tư 02/2023/TT-BTTTT cũng đưa ra thứ tự ưu tiên. Phương thức được khuyến khích và ưu tiên nhất là gửi qua Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông. Đây là hệ thống chuyên dụng được xây dựng để tiếp nhận, xử lý và tổng hợp báo cáo, đảm bảo luồng dữ liệu tập trung và an toàn. Nếu không thể sử dụng hệ thống này, phương thức ưu tiên tiếp theo là gửi qua Hệ thống thư điện tử, cho phép gửi nhận báo cáo điện tử một cách nhanh chóng. Trong trường hợp cần thiết, có thể sử dụng Fax hoặc gửi trực tiếp báo cáo đến cơ quan nhận. Ngoài ra, Thông tư cũng mở ra khả năng sử dụng các phương thức khác theo quy định của pháp luật, tạo sự linh hoạt cho các đối tượng thực hiện báo cáo.
Quy trình công bố danh mục báo cáo định kỳ
Để đảm bảo tính minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng thực hiện báo cáo, Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT quy định cụ thể quy trình công bố danh mục các chế độ báo cáo định kỳ. Việc công bố này áp dụng cho các chế độ báo cáo được ban hành bởi cấp trên (Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ ngành khác) nhưng giao cho Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc các đơn vị trực thuộc triển khai thực hiện. Danh mục này sẽ được đăng tải công khai trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ.
Quy trình công bố bắt đầu từ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông. Các đơn vị này có trách nhiệm rà soát và xây dựng đề nghị công bố danh mục báo cáo định kỳ được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật mà đơn vị đó được phân công chủ trì soạn thảo hoặc triển khai. Điều này đảm bảo rằng mọi chế độ báo cáo mới hoặc điều chỉnh đều được cập nhật vào danh mục công bố.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày văn bản quy phạm pháp luật quy định chế độ báo cáo có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo phải gửi đề nghị công bố danh mục đó đến Văn phòng Bộ. Đề nghị này phải tuân thủ mẫu số 01 tại Phụ lục III của Thông tư và bao gồm các thông tin cần thiết như tên báo cáo, đối tượng thực hiện, cơ quan nhận, tần suất thực hiện, và văn bản quy định chế độ báo cáo đó. Văn phòng Bộ có trách nhiệm rà soát, tổng hợp và trình Lãnh đạo Bộ xem xét, ký Quyết định công bố (theo mẫu số 02 Phụ lục III) chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày văn bản có hiệu lực. Sau khi có Quyết định, Trung tâm Thông tin của Bộ sẽ chịu trách nhiệm đăng tải, cập nhật và duy trì danh mục này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ, đảm bảo thông tin luôn chính xác và dễ dàng truy cập.
Ứng dụng công nghệ thông tin và Hệ thống báo cáo của Bộ TTTT
Nhận thức rõ tầm quan trọng của chuyển đổi số, Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT đặc biệt nhấn mạnh việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chế độ báo cáo định kỳ. Mục tiêu hướng tới là thực hiện báo cáo điện tử trên diện rộng, tạo môi trường làm việc hiện đại, hiệu quả, và tiết kiệm chi phí cho cả cơ quan nhà nước lẫn các đối tượng thực hiện báo cáo.
Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và các đối tượng liên quan đều có trách nhiệm đẩy mạnh việc sử dụng các công cụ, nền tảng công nghệ thông tin vào quy trình thu thập, tổng hợp và gửi báo cáo. Việc này không chỉ giúp tự động hóa các công đoạn thủ công, giảm thiểu sai sót mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổng hợp dữ liệu nhanh chóng và chia sẻ thông tin giữa các bên liên quan. Thông tư cũng khẳng định giá trị pháp lý của báo cáo điện tử và việc sử dụng chữ ký điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hình thức báo cáo hiện đại này.
Song song với việc khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin, Thông tư 02/2023/TT-BTTTT cũng quy định về Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông. Hệ thống này được xác định là nền tảng cốt lõi để thu thập, tổng hợp, phân tích dữ liệu báo cáo từ các đối tượng thực hiện. Chức năng chính của hệ thống là phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng và các cấp quản lý, đồng thời cung cấp số liệu theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền. Hệ thống này được xây dựng và cài đặt tại Bộ, đồng thời phải đảm bảo khả năng kết nối, liên thông, và chia sẻ dữ liệu với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ và các cơ quan, tổ chức liên quan, tạo nên một mạng lưới thông tin đồng bộ trên toàn quốc. Việc xây dựng và vận hành hệ thống này phải tuân thủ các yêu cầu, chức năng theo quy định tại Nghị định số 09/2019/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước, và phải có đầy đủ các tính năng bảo mật, xác thực, toàn vẹn thông tin theo quy định pháp luật.
Hiệu lực thi hành và bãi bỏ các quy định cũ
Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2023. Kể từ thời điểm này, các quy định mới về chế độ báo cáo định kỳ trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông theo Thông tư sẽ chính thức được áp dụng. Điều này đánh dấu một giai đoạn mới trong công tác thu thập, xử lý và sử dụng thông tin báo cáo của ngành.
Cùng với việc có hiệu lực, Thông tư 02/2023/TT-BTTTT cũng thực hiện việc bãi bỏ một loạt các quy định về chế độ báo cáo định kỳ đã tồn tại trước đó. Cụ thể, 19 Thông tư do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành trước đây, có các điều, khoản quy định về chế độ báo cáo định kỳ, sẽ bị bãi bỏ kể từ ngày Thông tư 02/2023/TT-BTTTT có hiệu lực. Danh mục chi tiết 19 Thông tư bị bãi bỏ được liệt kê tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này. Việc bãi bỏ này nhằm mục đích chuẩn hóa, đơn giản hóa và tập trung các quy định về báo cáo định kỳ vào một văn bản duy nhất, tránh tình trạng phân tán, chồng chéo, tạo thuận lợi cho các đối tượng thực hiện.
Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thi hành Thông tư
Việc triển khai hiệu quả Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT đòi hỏi sự phối hợp và thực hiện trách nhiệm đầy đủ của nhiều cơ quan, đơn vị liên quan, từ các đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông cho đến các Sở Thông tin và Truyền thông và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chủ động rà soát các chế độ báo cáo định kỳ hiện hành để đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ sao cho phù hợp với quy định mới của Thông tư này. Đồng thời, các đơn vị này phải thực hiện nghiêm túc quy trình công bố chế độ báo cáo định kỳ theo quy định. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện báo cáo và chủ động chia sẻ, cung cấp thông tin, số liệu báo cáo khi có yêu cầu hợp pháp cũng là trách nhiệm quan trọng.
Văn phòng Bộ đóng vai trò trung tâm trong việc điều phối và giám sát thực hiện Thông tư. Văn phòng Bộ phối hợp với các đơn vị liên quan để hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện Thông tư. Đơn vị này chịu trách nhiệm xử lý, phân tích, tổng hợp thông tin, báo cáo từ các đơn vị khác. Văn phòng Bộ cũng phối hợp xây dựng và quản lý Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, đảm bảo kết nối, liên thông với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ. Việc quản lý, lưu trữ, chia sẻ các thông tin báo cáo của ngành để phục vụ chỉ đạo điều hành của Bộ trưởng và các cấp địa phương cũng thuộc về Văn phòng Bộ. Đơn vị này còn là đầu mối trong việc tiếp nhận và triển khai các sửa đổi, bổ sung liên quan đến chế độ báo cáo hành chính nhà nước và tổ chức tập huấn định kỳ hoặc đột xuất cho các đối tượng áp dụng Thông tư. Cuối cùng, Văn phòng Bộ tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện Thông tư theo yêu cầu.
Trung tâm Thông tin có trách nhiệm về mặt kỹ thuật và hạ tầng. Đơn vị này đề xuất, xây dựng, vận hành, và nâng cấp Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, đảm bảo hạ tầng kỹ thuật, công nghệ để hệ thống hoạt động ổn định, bảo mật, và liên thông. Việc cung cấp đầy đủ, kịp thời và quản lý sử dụng dịch vụ chứng thư số cho các đối tượng thực hiện báo cáo điện tử cũng là trách nhiệm của Trung tâm Thông tin. Đồng thời, Trung tâm Thông tin có nhiệm vụ đăng tải và duy trì danh mục chế độ báo cáo định kỳ trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ theo quy định.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (đại diện là các Sở Thông tin và Truyền thông) và các tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp và thực hiện nghiêm túc các quy định tại Thông tư này trong phạm vi chức năng và nghĩa vụ của mình.
Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT là bước tiến quan trọng trong việc chuẩn hóa và nâng cao hiệu quả công tác báo cáo định kỳ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông. Việc nắm vững các quy định này giúp các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ báo cáo một cách chính xác, kịp thời. Edupace hy vọng bài viết này đã cung cấp những thông tin hữu ích về văn bản pháp luật quan trọng này.
Câu hỏi thường gặp về Thông tư 02/2023/TT-BTTTT
Thông tư số 02/2023/TT-BTTTT có hiệu lực từ khi nào?
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2023.
Những đối tượng nào phải tuân thủ Thông tư 02/2023/TT-BTTTT?
Các cơ quan hành chính nhà nước, công chức, viên chức liên quan đến việc ban hành và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, cùng các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện báo cáo định kỳ theo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Thông tư 02/2023/TT-BTTTT điều chỉnh những loại báo cáo nào?
Thông tư này điều chỉnh các chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông, bao gồm cả các báo cáo do Bộ ban hành và các báo cáo do cấp trên ban hành nhưng giao Bộ hoặc các đơn vị trực thuộc thực hiện. Thông tư không điều chỉnh báo cáo mật, báo cáo nội bộ và báo cáo thống kê.
Thời hạn gửi báo cáo định kỳ hàng tháng theo Thông tư là khi nào?
Đối với báo cáo định kỳ hàng tháng, thời hạn gửi từ đối tượng thực hiện đến cơ quan nhận báo cáo là chậm nhất ngày 15 của tháng báo cáo. Có các mốc thời gian tiếp theo cho việc tổng hợp và gửi báo cáo giữa các cấp khác nhau trong hệ thống.
Có thể gửi báo cáo bằng hình thức điện tử theo Thông tư không?
Có, Thông tư khuyến khích mạnh mẽ việc ứng dụng công nghệ thông tin và ưu tiên hình thức báo cáo bằng văn bản điện tử có sử dụng chữ ký số. Các phương thức gửi báo cáo ưu tiên bao gồm qua Hệ thống thông tin báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Hệ thống thư điện tử.





