Việc xác định mức độ khuyết tật là một quy trình quan trọng để người khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ phù hợp. Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã quy định chi tiết về hoạt động này, đảm bảo tính khách quan và chính xác trong quá trình đánh giá, từ đó cấp Giấy xác nhận khuyết tật cho người đủ điều kiện.
Quy định chung về xác định khuyết tật
Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH, ban hành ngày 02/01/2019 và có hiệu lực từ ngày 15/03/2019, là văn bản pháp lý quy định chi tiết về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện. Văn bản này đã thay thế Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT. Phạm vi điều chỉnh của Thông tư bao gồm hoạt động của Hội đồng, phương pháp xác định dạng tật và mức độ khuyết tật, hồ sơ, thủ tục liên quan, cũng như việc cấp, cấp đổi, cấp lại, thu hồi Giấy xác nhận khuyết tật và kinh phí thực hiện.
Đối tượng áp dụng của Thông tư rất rộng, bao gồm không chỉ người khuyết tật và người đại diện hợp pháp của họ, mà còn các cơ quan quản lý nhà nước về người khuyết tật, Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cùng các thành viên, và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác. Điều này nhằm đảm bảo toàn bộ quy trình được thực hiện đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Việc hiểu rõ các quy định chung này là bước đầu tiên quan trọng đối với bất kỳ ai có nhu cầu hoặc liên quan đến việc xác định mức độ khuyết tật.
Vai trò và thành phần Hội đồng xác định mức độ khuyết tật
Hội đồng xác định mức độ khuyết tật đóng vai trò trung tâm trong quy trình đánh giá và xác nhận tình trạng khuyết tật tại cấp xã. Hội đồng này được thành lập theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã và có cùng nhiệm kỳ với UBND cấp xã. Thành phần của Hội đồng được quy định cụ thể để đảm bảo có sự tham gia của các chuyên gia và đại diện cộng đồng.
Cụ thể, Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch UBND cấp xã. Các thành viên bao gồm Trạm trưởng trạm y tế cấp xã, công chức cấp xã phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội. Bên cạnh đó, còn có đại diện từ các tổ chức đoàn thể như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh cấp xã, và nếu có, người đứng đầu tổ chức của người khuyết tật cấp xã. Công chức phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội có trách nhiệm quan trọng trong việc hướng dẫn hồ sơ, ghi biên bản, và tổng hợp kết quả. Trạm trưởng trạm y tế cung cấp thông tin y tế chuyên môn. Các thành viên khác tham gia vào quá trình đánh giá chung. Hội đồng được phép sử dụng con dấu của UBND cấp xã trong các hoạt động của mình.
Phương pháp đánh giá mức độ khuyết tật chi tiết
Việc xác định dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật được thực hiện theo phương pháp tổng hợp, dựa trên quan sát trực tiếp và phỏng vấn. Hội đồng quan sát người khuyết tật, yêu cầu thực hiện các hoạt động đơn giản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Song song đó, Hội đồng sử dụng bộ câu hỏi theo các tiêu chí về y tế và xã hội đã được quy định trong các mẫu phiếu đi kèm Thông tư. Quá trình này có thể sử dụng thêm các phương pháp đơn giản khác để đưa ra kết luận chính xác nhất về dạng tật và mức độ khuyết tật của từng người.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Xây dựng lộ trình học IELTS từ con số 0 hiệu quả
- Không đi sinh hoạt hè có bị hạ hạnh kiểm không: Chi tiết giải đáp
- Mơ Thấy Con Rồng Đánh Số Gì? Giải Mã Điềm Báo Chi Tiết
- Khám Phá **Hình Nền Học Tập May Mắn**: Nguồn Động Lực Vượt Trội Từ Edupace
- Nằm mơ thấy rồng đỏ báo hiệu điều gì? Giải mã chi tiết
Phương pháp đánh giá có sự điều chỉnh dựa trên độ tuổi của người được xác định khuyết tật. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, Hội đồng căn cứ vào hồ sơ đề nghị, áp dụng phương pháp quan sát và phỏng vấn người đại diện hợp pháp của trẻ. Việc đánh giá được ghi lại trên “Phiếu xác định mức độ khuyết tật đối với trẻ em dưới 6 tuổi” (Mẫu số 02). Phiếu này tập trung vào các dấu hiệu đặc trưng của từng dạng khuyết tật và các dấu hiệu nhận biết mức độ đặc biệt nặng hoặc nặng ở lứa tuổi này, ví dụ như mềm nhẽo hoặc co cứng toàn thân, thiếu chi, mù hai mắt, hoặc các kết luận từ cơ sở y tế tỉnh trở lên về các bệnh lý đặc thù như bại não hay tâm thần phân liệt.
Đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên, quy trình tương tự nhưng sử dụng “Phiếu xác định mức độ khuyết tật đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên” (Mẫu số 03). Phiếu này có hai phần đánh giá mức độ. Phần 1 là các dấu hiệu đặc biệt nặng hoặc nặng có thể nhận biết qua quan sát trực tiếp, tương tự như ở trẻ nhỏ nhưng có bổ sung tiêu chí câm và điếc hoàn toàn cho mức độ nặng. Nếu không thuộc các trường hợp này, người khuyết tật được đánh giá theo Phần 2 dựa trên khả năng thực hiện 10 hoạt động sinh hoạt cá nhân và xã hội cơ bản như đi lại, ăn uống, vệ sinh cá nhân, giao tiếp, học tập, lao động. Mỗi hoạt động được chấm điểm từ 0 đến 2 (Thực hiện được: 0 điểm; Thực hiện được nhưng cần trợ giúp: 1 điểm; Không thực hiện được: 2 điểm). Tổng điểm của 10 hoạt động sẽ xác định mức độ khuyết tật: 0-6 điểm là mức độ nhẹ, 7-13 điểm là mức độ nặng, và từ 14 điểm trở lên là mức độ đặc biệt nặng. Trường hợp người khuyết tật đang đi học, Hội đồng sẽ tham khảo thêm thông tin từ cơ sở giáo dục thông qua Mẫu số 04 để có cái nhìn toàn diện hơn về khó khăn trong học tập và giao tiếp.
Thông tư 01 2019 quy định xác định mức độ khuyết tật
Hồ sơ và thủ tục đề nghị xác định khuyết tật
Quy trình đề nghị xác định mức độ khuyết tật hoặc xác định lại, cũng như cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy xác nhận khuyết tật, bắt đầu bằng việc chuẩn bị hồ sơ. Người đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật cần làm Đơn đề nghị theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư. Đây là văn bản chính thức bày tỏ nguyện vọng và cung cấp thông tin cơ bản.
Bên cạnh Đơn đề nghị, hồ sơ cần bổ sung bản sao các giấy tờ liên quan đến tình trạng khuyết tật nếu có. Các giấy tờ này có thể bao gồm bệnh án, giấy tờ khám chữa bệnh, các kết quả điều trị, phẫu thuật. Nếu đã từng có Giấy xác nhận khuyết tật cũ hoặc kết luận của Hội đồng Giám định y khoa (đối với các trường hợp trước khi Nghị định số 28/2012/NĐ-CP có hiệu lực), bản sao các giấy tờ này cũng cần được nộp kèm. Khi nộp hồ sơ tại UBND cấp xã nơi cư trú, người đề nghị cần xuất trình các giấy tờ tùy thân như Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân (của cả đối tượng và người đại diện), Giấy khai sinh (đối với trẻ em), và Sổ hộ khẩu để cán bộ tiếp nhận hồ sơ đối chiếu thông tin. Quy định này giúp đảm bảo tính xác thực của hồ sơ ban đầu.
Quy trình xử lý hồ sơ và cấp Giấy xác nhận
Sau khi nhận được hồ sơ đầy đủ từ người đề nghị, Chủ tịch Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã có trách nhiệm xử lý trong thời hạn 20 ngày làm việc. Trong khoảng thời gian này, Hội đồng thực hiện nhiều công việc. Đầu tiên, nếu người được xác định mức độ khuyết tật đang đi học, Hội đồng sẽ gửi văn bản tham khảo ý kiến của cơ sở giáo dục về tình trạng khó khăn, biểu hiện và đề xuất về dạng, mức độ khuyết tật thông qua Mẫu số 04.
Tiếp theo, Chủ tịch Hội đồng sẽ triệu tập các thành viên Hội đồng và thông báo thời gian, địa điểm tiến hành xác định mức độ khuyết tật cho người khuyết tật hoặc người đại diện của họ. Việc đánh giá được tổ chức tại UBND cấp xã hoặc Trạm y tế, tuy nhiên, nếu người khuyết tật không thể di chuyển, Hội đồng có thể đến tận nơi cư trú để thực hiện quan sát và phỏng vấn. Hội đồng tiến hành đánh giá dựa trên các phương pháp đã nêu, điền thông tin vào Phiếu xác định mức độ khuyết tật phù hợp (Mẫu 02 hoặc 03), lập biên bản kết luận cuộc họp (Mẫu 05) về dạng và mức độ khuyết tật. Đối với các trường hợp đã có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa trước đây, Hội đồng cấp xã sẽ căn cứ vào kết luận đó để xác định mức độ theo quy định.
Kết luận của Hội đồng sau đó sẽ được công khai tại trụ sở UBND cấp xã trong thời hạn 05 ngày làm việc. Nếu không có khiếu nại hoặc tố cáo, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ tiến hành cấp Giấy xác nhận khuyết tật theo Mẫu số 06 trong vòng 05 ngày làm việc tiếp theo. Giấy xác nhận này là căn cứ pháp lý quan trọng để người khuyết tật được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Trong trường hợp có khiếu nại, Hội đồng có 05 ngày làm việc để xác minh, thẩm tra, đưa ra kết luận cuối cùng và trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại. Nếu Hội đồng không thể đưa ra kết luận hoặc có tranh chấp về tính khách quan, hồ sơ có thể được chuyển lên Hội đồng Giám định y khoa để giám định.
Cấp đổi, cấp lại và thu hồi Giấy xác nhận
Giấy xác nhận khuyết tật là một tài liệu quan trọng, và có những trường hợp cần thực hiện thủ tục cấp đổi hoặc cấp lại. Việc cấp đổi được áp dụng khi Giấy xác nhận khuyết tật bị sai thông tin so với giấy tờ tùy thân chính thức hoặc khi giấy bị hư hỏng không còn sử dụng được.
Thủ tục cấp lại Giấy xác nhận khuyết tật được thực hiện trong các trường hợp phổ biến hơn. Đó là khi có sự thay đổi về dạng khuyết tật hoặc mức độ khuyết tật (do tình trạng sức khỏe thay đổi). Giấy cũng được cấp lại khi bị mất hoặc khi người khuyết tật đạt từ đủ 6 tuổi trở lên (trừ một số trường hợp khuyết tật đặc biệt nặng đã được xác định). Quy trình cấp đổi hoặc cấp lại thường căn cứ vào hồ sơ lưu trữ tại UBND cấp xã và được thực hiện trong vòng 05 ngày làm việc, trừ trường hợp cần xác định lại dạng hoặc mức độ khuyết tật thì quy trình sẽ tuân theo Điều 5 và Điều 6 của Thông tư. Ngoài ra, Giấy xác nhận khuyết tật sẽ bị thu hồi nếu cơ quan có thẩm quyền kết luận việc cấp giấy ban đầu không đúng dạng hoặc mức độ khuyết tật theo quy định.
Chi phí cho quy trình xác định khuyết tật
Để đảm bảo hoạt động của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và toàn bộ quy trình được diễn ra suôn sẻ, cần có nguồn kinh phí hỗ trợ. Kinh phí này được bố trí trong dự toán chi ngân sách cấp xã hàng năm, tuân thủ theo Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan.
Nội dung chi phí bao gồm nhiều khoản khác nhau. Chi cho văn phòng phẩm, in ấn các loại giấy tờ, biểu mẫu, sổ sách phục vụ công tác quản lý được thanh toán dựa trên thực tế phát sinh và dự toán đã được phê duyệt. Một khoản chi quan trọng khác là chi cho các buổi họp của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, với mức chi tối đa được quy định cụ thể cho Chủ tịch Hội đồng và các thành viên tham dự, cũng như chi nước uống. Trường hợp cần đến sự tham gia của Hội đồng Giám định y khoa, chi phí giám định sẽ được thực hiện theo quy định riêng của Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, kinh phí cũng được dành cho công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật liên quan đến xác định mức độ khuyết tật, và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các thành viên Hội đồng nhằm nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ.
Trách nhiệm của các cấp chính quyền và hiệu lực thi hành
Việc thực hiện Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH đòi hỏi sự phối hợp và trách nhiệm của nhiều cấp chính quyền. UBND cấp xã có trách nhiệm trực tiếp trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách, tổ chức thực hiện xác định và xác định lại mức độ khuyết tật trên địa bàn, bao gồm cả đối tượng sống tại các cơ sở trợ giúp xã hội. Đồng thời, UBND cấp xã cần định kỳ tổng hợp và báo cáo công tác này lên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) cấp huyện.
Phòng LĐTBXH cấp huyện có vai trò hướng dẫn thực hiện, kiểm tra công tác tại các xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn mình quản lý. Phòng LĐTBXH cũng có trách nhiệm tổng hợp báo cáo từ cấp xã và gửi lên Sở LĐTBXH cấp tỉnh theo định kỳ quy định. Sở LĐTBXH cấp tỉnh tiếp tục vai trò hướng dẫn, kiểm tra, và tổng hợp báo cáo từ cấp huyện, sau đó gửi lên Bộ LĐTBXH. Bộ LĐTBXH là cơ quan chủ trì, nghiên cứu và hướng dẫn các vấn đề liên quan, bao gồm cả việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình xác định mức độ khuyết tật để nâng cao hiệu quả.
Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 3 năm 2019. Văn bản này thay thế Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT/BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT. Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy xác nhận khuyết tật trước ngày Thông tư 01/2019 có hiệu lực, về nguyên tắc không phải xác định lại mức độ khuyết tật. Tuy nhiên, việc xác định lại sẽ được thực hiện nếu người khuyết tật hoặc người đại diện có yêu cầu, hoặc khi có sự kiện thực tế làm thay đổi mức độ khuyết tật, hoặc theo các quy định khác của pháp luật.
Câu hỏi thường gặp (FAQs)
Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH quy định về vấn đề gì?
Thông tư này quy định chi tiết về quy trình, thủ tục, hồ sơ, phương pháp và các vấn đề liên quan đến việc xác định dạng tật và mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã thực hiện, cũng như việc cấp, cấp đổi, cấp lại, thu hồi Giấy xác nhận khuyết tật.
Ai là người chịu trách nhiệm chính trong Hội đồng xác định mức độ khuyết tật?
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và chịu trách nhiệm tổ chức, chủ trì các hoạt động của Hội đồng.
Quy trình xác định mức độ khuyết tật mất bao lâu?
Theo Thông tư, trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, Hội đồng xác định mức độ khuyết tật phải hoàn thành việc đánh giá và lập biên bản kết luận. Sau đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có biên bản kết luận, Chủ tịch UBND cấp xã sẽ niêm yết công khai kết luận và cấp Giấy xác nhận khuyết tật nếu không có khiếu nại.
Làm thế nào để biết mức độ khuyết tật đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên?
Đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên, mức độ khuyết tật được xác định dựa trên khả năng thực hiện 10 hoạt động sinh hoạt cá nhân và xã hội cơ bản, được chấm điểm theo Mẫu số 03. Tổng điểm từ 0-6 là mức độ nhẹ, 7-13 là nặng, và từ 14 điểm trở lên là đặc biệt nặng.
Khi nào cần cấp đổi hoặc cấp lại Giấy xác nhận khuyết tật?
Giấy xác nhận cần cấp đổi khi sai thông tin hoặc bị hư hỏng. Cần cấp lại khi thay đổi dạng/mức độ khuyết tật, khi bị mất, hoặc khi người khuyết tật đạt từ đủ 6 tuổi trở lên (trừ trường hợp đặc biệt nặng đã được xác định).
Thông tư 01/2019/TT-BLĐTBXH là văn bản pháp lý quan trọng, tạo cơ sở để xác định rõ ràng tình trạng của người khuyết tật, từ đó giúp họ tiếp cận và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội, y tế, giáo dục và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật. Việc hiểu và tuân thủ đúng các quy định trong Thông tư này là cần thiết đối với cả người dân và các cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và sự hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật. Edupace hy vọng bài viết này đã cung cấp những thông tin hữu ích.





