Nghị định 91/2017/NĐ-CP đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn chi tiết thi hành Luật thi đua, khen thưởng, làm cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác thi đua, khen thưởng tại Việt Nam. Đây là văn bản cập nhật, quy định rõ ràng các tiêu chuẩn, thẩm quyền và thủ tục, đảm bảo sự công bằng và kịp thời trong việc ghi nhận đóng góp của cá nhân, tập thể. Việc hiểu rõ Nghị định 91/2017/NĐ-CP là cần thiết để thúc đẩy tinh thần cống hiến trong mọi lĩnh vực.
Tổng quan về Nghị định 91/2017/NĐ-CP
Nghị định số 91/2017/NĐ-CP được Chính phủ ban hành vào ngày 31 tháng 7 năm 2017, chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 10 năm 2017. Văn bản này ra đời nhằm thay thế các nghị định trước đó về cùng nội dung, cập nhật và sửa đổi nhiều quy định để phù hợp với tình hình thực tiễn và tinh thần của Luật thi đua, khen thưởng. Mục tiêu chính là quy định chi tiết các vấn đề như nội dung, tổ chức phong trào thi đua, tiêu chuẩn danh hiệu thi đua, hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xét tặng, quản lý nhà nước, quỹ thi đua, khen thưởng, cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định 91/2017/NĐ-CP có phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm các quy định chi tiết về công tác thi đua, khen thưởng. Các nội dung cụ thể được đề cập bao gồm việc xác định nội dung thi đua, cách thức tổ chức các phong trào, tiêu chuẩn để đạt các danh hiệu thi đua cao quý. Đồng thời, Nghị định cũng quy định rõ các hình thức khen thưởng, đối tượng được khen thưởng, tiêu chuẩn cụ thể cho từng hình thức, cùng với thẩm quyền và trình tự thủ tục để xét và quyết định khen thưởng. Việc quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng, nguồn hình thành và sử dụng quỹ khen thưởng, cũng như quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tập thể được khen thưởng đều được quy định chi tiết trong Nghị định này.
Đối tượng áp dụng của Nghị định cũng rất đa dạng. Bao gồm công dân Việt Nam không phân biệt vị trí công tác hay lĩnh vực hoạt động. Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc Lực lượng vũ trang nhân dân, và cả các gia đình cũng nằm trong diện áp dụng. Đặc biệt, Nghị định mở rộng đối tượng sang cả người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài, các cơ quan, tổ chức nước ngoài và các tổ chức quốc tế có hoạt động hoặc đóng góp tại Việt Nam, thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước đối với những đóng góp không chỉ từ nội bộ mà còn từ bên ngoài.
Nguyên tắc cơ bản trong khen thưởng
Công tác khen thưởng theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP phải tuân thủ một số nguyên tắc cốt lõi nhằm đảm bảo tính chính xác, kịp thời và công bằng. Trước hết, hình thức khen thưởng được trao tặng cần phải phù hợp với đối tượng được khen, tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân, và đặc biệt là phải dựa trên thành tích thực tế đã đạt được. Việc này nhằm tránh tình trạng khen thưởng tràn lan hoặc không đúng người, đúng việc.
Một nguyên tắc quan trọng khác là khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn đã được quy định rõ ràng và dựa trên thành tích đạt được, không nhất thiết phải bắt đầu từ các hình thức khen thưởng cấp thấp hơn mới được xét các hình thức cao hơn. Nghị định khuyến khích việc chú trọng khen thưởng các tập thể nhỏ, là nơi trực tiếp thực hiện công việc, và các cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, học tập, công tác hoặc chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Điều này nhằm khích lệ tinh thần làm việc của đông đảo cán bộ, công nhân viên và người lao động. Nghị định cũng nhấn mạnh việc không tặng thưởng nhiều hình thức cho cùng một thành tích đạt được. Các hình thức khen thưởng theo đợt hoặc chuyên đề thường không được tính làm điều kiện để đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước, trừ một số trường hợp đặc biệt. Bên cạnh đó, Nghị định còn có quy định ưu tiên khen thưởng đối với cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ cao khi có nhiều đối tượng cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thể hiện sự quan tâm đến vai trò của phụ nữ trong công tác thi đua, khen thưởng.
<>Xem Thêm Bài Viết:<>- Vẽ Lại Góc Học Tập Của Em: Biến Hóa Không Gian Đầy Cảm Hứng
- Công Cụ Đọc Câu Tiếng Anh Trực Tuyến Hiệu Quả
- Giải Mã Chi Tiết Giấc **Mơ Thấy Rụng Tóc Hói Đầu**: Điềm Báo Gì?
- Mơ Thấy 2 Con Ếch Đánh Số Gì? Giải Mã Giấc Mơ Chi Tiết Nhất
- Khám Phá Danh Từ Ghép Tiếng Anh Đầy Đủ Nhất
Tổ chức phong trào thi đua theo quy định
Nghị định 91/2017/NĐ-CP cung cấp khuôn khổ chi tiết cho việc tổ chức và triển khai các phong trào thi đua tại các cấp, các ngành, các tổ chức. Mục tiêu là tạo động lực mạnh mẽ để cá nhân và tập thể phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần vào sự phát triển chung. Việc tổ chức phong trào cần được thực hiện một cách bài bản, từ việc xác định mục tiêu đến tổng kết và biểu dương.
Các hình thức thi đua phổ biến
Theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP, có hai hình thức tổ chức thi đua chính được quy định rõ. Hình thức thứ nhất là Thi đua thường xuyên. Đây là hình thức được tổ chức dựa trên chức năng, nhiệm vụ hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cá nhân và tập thể. Đối tượng tham gia thi đua thường xuyên là các cá nhân trong cùng một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng. Việc tổ chức thi đua thường xuyên yêu cầu xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu và các chỉ tiêu cụ thể, đồng thời phải được triển khai thực hiện tại đơn vị hoặc theo các cụm, khối thi đua. Kết thúc năm công tác, các đơn vị cần tiến hành tổng kết và bình xét các danh hiệu thi đua phù hợp.
Hình thức thứ hai là Thi đua theo đợt (hay còn gọi là thi đua chuyên đề). Hình thức này được phát động nhằm tập trung giải quyết hoặc thực hiện tốt một nhiệm vụ trọng tâm hoặc một lĩnh vực công tác cần được ưu tiên trong một khoảng thời gian nhất định. Mục đích của thi đua theo đợt là nhằm phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ mang tính trọng tâm, cấp bách của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Việc phát động thi đua theo đợt chỉ nên được thực hiện khi đã xác định rõ ràng về thời gian, mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung cần thực hiện và các giải pháp để đạt được mục tiêu đề ra. Cả hai hình thức thi đua này đều đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả công việc và tạo không khí phấn đấu sôi nổi trong các cơ quan, đơn vị.
Nội dung và trách nhiệm tổ chức thi đua hiệu quả
Việc tổ chức phong trào thi đua hiệu quả đòi hỏi tuân thủ các bước và nội dung cụ thể được quy định trong Nghị định 91/2017/NĐ-CP. Bước đầu tiên là xác định rõ mục tiêu, phạm vi, và đối tượng tham gia thi đua. Trên cơ sở đó, cần đề ra các chỉ tiêu và nội dung thi đua chi tiết, đảm bảo tính khoa học, phù hợp với thực tế của đơn vị, địa phương và có tính khả thi cao. Việc xác định nội dung và chỉ tiêu đúng đắn là nền tảng cho sự thành công của phong trào.
Tiếp theo, căn cứ vào đặc điểm, tính chất công việc, phạm vi và đối tượng tham gia, cần lựa chọn nội dung và hình thức tổ chức phát động thi đua sao cho phù hợp. Công tác tuyên truyền về nội dung và ý nghĩa của đợt thi đua cần được coi trọng để nâng cao nhận thức và phát huy tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của người tham gia. Sau khi phát động, cần triển khai các biện pháp tổ chức vận động quần chúng tích cực tham gia và theo dõi chặt chẽ quá trình thực hiện. Tổ chức chỉ đạo điểm là một biện pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả, nhận diện tồn tại, hạn chế và đề ra giải pháp khắc phục kịp thời. Cuối cùng, việc tổ chức sơ kết, tổng kết phong trào thi đua để đánh giá kết quả, lựa chọn và khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu là bước không thể thiếu. Song song đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, biểu dương, tôn vinh các gương điển hình tiên tiến, tạo điều kiện để họ chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng những sáng kiến, mô hình hay.
Vai trò của các cơ quan trong công tác thi đua
Công tác thi đua, khen thưởng thành công phụ thuộc rất lớn vào trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP. Thủ trưởng các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương đóng vai trò chủ trì trong việc tổ chức phát động và chỉ đạo triển khai phong trào thi đua trong phạm vi quản lý của mình. Họ có trách nhiệm chủ động phát hiện, lựa chọn các tập thể, cá nhân xứng đáng để khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng. Đồng thời, việc tuyên truyền, tôn vinh điển hình tiên tiến và tạo điều kiện để các cá nhân, tập thể được khen thưởng giao lưu, phổ biến kinh nghiệm cũng là trách nhiệm quan trọng.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cũng có vai trò tích cực. Họ tổ chức hoặc phối hợp với các cơ quan nhà nước để phát động, triển khai các cuộc vận động, phong trào thi đua, đồng thời phổ biến kinh nghiệm và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Sự phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên giúp tăng cường sức mạnh tổng hợp. Các tổ chức này còn tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về thi đua, khen thưởng, kịp thời phản ánh và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác này. Cơ quan làm công tác thi đua, khen thưởng chuyên trách ở các cấp có trách nhiệm tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền về chủ trương, nội dung, kế hoạch thi đua. Họ cũng đóng vai trò nòng cốt trong việc tuyên truyền, vận động, hướng dẫn tổ chức phong trào, kiểm tra thực hiện, tham mưu sơ kết, tổng kết, và đề xuất khen thưởng, đồng thời tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác. Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm phản ánh chân thực kết quả phong trào, tuyên truyền chủ trương, chính sách pháp luật, phát hiện, biểu dương gương điển hình, và đấu tranh với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng.
Các danh hiệu thi đua và tiêu chuẩn cụ thể
Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định chi tiết các danh hiệu thi đua dành cho cá nhân và tập thể, kèm theo tiêu chuẩn cụ thể để xét tặng. Các danh hiệu này là sự ghi nhận đối với những nỗ lực và thành tích nổi bật trong công tác, lao động, sản xuất, và các hoạt động khác.
Danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp
Danh hiệu Chiến sĩ thi đua là một trong những danh hiệu cao quý trong công tác thi đua, khen thưởng. Theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP, danh hiệu này được phân thành nhiều cấp độ. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” được xét tặng hàng năm cho các cá nhân đạt tiêu chuẩn “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”. Điều kiện quan trọng để đạt danh hiệu này là cá nhân phải có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, giải pháp công tác để tăng năng suất, tăng hiệu quả công việc được cơ sở công nhận, hoặc có đề tài nghiên cứu khoa học đã nghiệm thu được áp dụng tại đơn vị, hoặc có sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được đơn vị công nhận. Tỷ lệ cá nhân được công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở do từng bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương quy định cho phù hợp với thực tế, nhưng không quá 15% tổng số cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến”.
Cấp cao hơn là danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương. Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu này thường yêu cầu cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở hai lần liên tục và có sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học hoặc sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu có phạm vi ảnh hưởng và được áp dụng trong toàn bộ hoặc thuộc phạm vi quản lý của bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương, mang lại hiệu quả cao.
Danh hiệu cao quý nhất trong hệ thống danh hiệu Chiến sĩ thi đua là danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”. Danh hiệu này chỉ được xét tặng cho cá nhân có thành tích tiêu biểu, xuất sắc nhất, được lựa chọn từ những cá nhân đã hai lần liên tục đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương. Sáng kiến hoặc đề tài nghiên cứu khoa học làm căn cứ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” phải được áp dụng thực tiễn đạt hiệu quả cao và có phạm vi ảnh hưởng trong toàn quốc. Sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu đối với lực lượng vũ trang cũng phải đạt hiệu quả cao và có phạm vi ảnh hưởng toàn quốc. Việc công nhận hiệu quả áp dụng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài do người đứng đầu các bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương xem xét, công nhận, còn đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh thì do Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, công nhận.
Danh hiệu Lao động tiên tiến và Chiến sĩ tiên tiến
Bên cạnh danh hiệu Chiến sĩ thi đua, Nghị định 91/2017/NĐ-CP cũng quy định về danh hiệu “Lao động tiên tiến” dành cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, nông dân và người lao động khác, cùng với danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” dành cho cá nhân trong lực lượng vũ trang. Tiêu chuẩn xét tặng các danh hiệu này được thực hiện theo quy định tại Điều 24 của Luật thi đua, khen thưởng.
Nghị định làm rõ thêm một số trường hợp đặc biệt khi xét tặng các danh hiệu này. Ví dụ, cá nhân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản bị thương tích cần điều trị thì thời gian điều trị, điều dưỡng vẫn được tính để bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”. Cá nhân được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 01 năm, nếu chấp hành tốt quy định, thời gian học tập được tính vào thời gian công tác để bình xét. Nếu đi đào tạo từ 01 năm trở lên, cần có kết quả học tập từ loại khá trở lên mới được tính để xét tặng. Thời gian nghỉ thai sản theo quy định cũng được tính để bình xét. Đối với cá nhân chuyển công tác, đơn vị mới sẽ có trách nhiệm bình xét, nhưng nếu có thời gian công tác ở đơn vị cũ từ 06 tháng trở lên thì cần có ý kiến nhận xét của đơn vị cũ. Trường hợp biệt phái, việc bình xét do đơn vị điều động xem xét quyết định dựa trên xác nhận của đơn vị tiếp nhận. Nghị định cũng nêu rõ các trường hợp không xét tặng danh hiệu này, bao gồm cá nhân mới tuyển dụng dưới 10 tháng hoặc bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên.
Các danh hiệu Cờ thi đua cao quý
Các danh hiệu Cờ thi đua là hình thức khen thưởng cao nhất dành cho các tập thể xuất sắc trong phong trào thi đua. Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định cụ thể về danh hiệu Cờ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương và danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ”. Danh hiệu Cờ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương được xét tặng thông qua bình xét, đánh giá, so sánh theo các khối, cụm thi đua do các cấp tổ chức. Việc công nhận tập thể tiêu biểu xuất sắc nhất dựa trên kết quả này. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn về việc tổ chức và hoạt động của các khối, cụm thi đua. Đối với các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, tiêu chuẩn tặng Cờ thi đua được quy định riêng cho phù hợp với đặc thù của lực lượng vũ trang.
Danh hiệu “Cờ thi đua của Chính phủ” là danh hiệu cao quý hơn, được xét tặng cho các tập thể tiêu biểu xuất sắc dẫn đầu trong số các tập thể đã đạt tiêu chuẩn Cờ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương. Số lượng tập thể được xét, đề nghị tặng “Cờ thi đua của Chính phủ” không quá 20% tổng số tập thể đạt tiêu chuẩn tặng Cờ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương. Ngoài ra, Bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương dẫn đầu các khối, cụm thi đua do Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương tổ chức cũng được xét tặng danh hiệu này. “Cờ thi đua của Chính phủ” cũng có thể được tặng cho tập thể tiêu biểu nhất trong các phong trào thi đua theo chuyên đề do Chủ tịch nước hoặc Thủ tướng Chính phủ phát động, được đánh giá, bình xét khi sơ kết, tổng kết từ 05 năm trở lên.
alt: Người nhận Huân chương trong buổi lễ khen thưởng
Hình thức và tiêu chuẩn khen thưởng chi tiết
Ngoài các danh hiệu thi đua, Nghị định 91/2017/NĐ-CP còn quy định chi tiết các hình thức khen thưởng cao quý khác như Huân chương, Huy chương, Bằng khen, Giấy khen, cùng với các danh hiệu vinh dự nhà nước và giải thưởng.
Phân loại các hình thức khen thưởng
Nghị định 91/2017/NĐ-CP phân loại các hình thức khen thưởng dựa trên tính chất và mức độ thành tích đạt được, bao gồm sáu loại chính.
- Khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được: Đây là hình thức phổ biến, dành cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong quá trình công tác, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ được đánh giá bởi cấp trình khen thưởng.
- Khen thưởng theo đợt (hoặc chuyên đề): Dành cho tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc khi kết thúc một đợt thi đua do lãnh đạo các cấp phát động.
- Khen thưởng đột xuất: Áp dụng cho tập thể, cá nhân có thành tích đột xuất, tức là thành tích đạt được ngoài chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ thông thường. Thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất là những thành tích ở mức đặc biệt nổi bật, như dũng cảm cứu người, cứu tài sản, hoặc lập thành tích được khu vực, thế giới ghi nhận.
- Khen thưởng quá trình cống hiến: Dành cho cá nhân có thời gian dài tham gia hoạt động cách mạng, giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, có công lao, thành tích xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
- Khen thưởng theo niên hạn: Áp dụng cho cá nhân thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân dựa trên thời gian tham gia xây dựng lực lượng vũ trang và thành tích đạt được.
- Khen thưởng đối ngoại: Dành cho tập thể, cá nhân người nước ngoài có thành tích đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao hoặc các lĩnh vực khác.
Các loại hình khen thưởng này phản ánh sự đa dạng trong việc ghi nhận đóng góp của các đối tượng khác nhau trong xã hội.
Tiêu chuẩn xét tặng Huân chương
Hệ thống Huân chương là các hình thức khen thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam, được quy định chi tiết trong Nghị định 91/2017/NĐ-CP với nhiều hạng khác nhau, tương ứng với mức độ công lao và thành tích.
- “Huân chương Sao vàng”: Là Huân chương cao quý nhất, tặng cho cá nhân có công lao to lớn, đặc biệt xuất sắc đối với đất nước trong nhiều lĩnh vực hoặc tham gia cách mạng từ rất sớm và giữ các chức vụ lãnh đạo đặc biệt quan trọng. Đối với tập thể, được tặng khi đã đạt “Huân chương Hồ Chí Minh” và 25 năm tiếp theo liên tục lập thành tích đặc biệt xuất sắc, có ảnh hưởng rộng, có nhân tố, mô hình mới tiêu biểu cho cả nước.
- “Huân chương Hồ Chí Minh”: Tặng cho cá nhân có công lao to lớn, nhiều thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực, hoặc tham gia cách mạng lâu năm, giữ các chức vụ lãnh đạo quan trọng. Đối với tập thể, được tặng khi đã đạt “Huân chương Độc lập” hạng nhất hoặc “Huân chương Quân công” hạng nhất và 10 năm tiếp theo liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có ảnh hưởng rộng, có nhân tố, mô hình mới tiêu biểu cho cả nước.
- “Huân chương Độc lập” (các hạng Nhất, Nhì, Ba): Tặng cho cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc hoặc nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng, hoặc có quá trình công tác lâu dài và giữ các chức vụ lãnh đạo khác nhau. Đối với tập thể, tiêu chuẩn xét tặng dựa trên việc đã được tặng Huân chương hạng thấp hơn liền kề và liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong một số năm nhất định, đồng thời đạt các danh hiệu thi đua khác như “Cờ thi đua của Chính phủ”, Cờ thi đua cấp bộ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen cấp bộ.
- “Huân chương Quân công” (các hạng Nhất, Nhì, Ba): Dành riêng cho cá nhân, tập thể trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có thời gian phục vụ lâu dài, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hoặc lập chiến công đặc biệt xuất sắc, quả cảm trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, huấn luyện, xây dựng lực lượng, củng cố nền quốc phòng, an ninh.
- “Huân chương Lao động” (các hạng Nhất, Nhì, Ba): Tặng cho cá nhân, tập thể liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nhiều sáng tạo trong lao động, sản xuất, công tác, học tập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiêu chuẩn xét tặng dựa trên việc đã được tặng Huân chương hạng thấp hơn hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và liên tục đạt thành tích xuất sắc, có sáng kiến, phát minh, công trình khoa học, tác phẩm xuất sắc, hoặc mô hình sản xuất hiệu quả. Đối với cá nhân có quá trình cống hiến lâu dài, tiêu chuẩn xét dựa trên thời gian công tác và chức vụ đảm nhiệm.
- “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” (các hạng Nhất, Nhì, Ba): Tặng cho cá nhân, tập thể thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có thành tích xuất sắc trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân.
- “Huân chương Chiến công” (các hạng Nhất, Nhì, Ba): Tặng cho cá nhân, tập thể có thành tích đặc biệt xuất sắc hoặc xuất sắc, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- “Huân chương Đại đoàn kết dân tộc”: Tặng cho cá nhân có quá trình cống hiến, công lao to lớn, thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đối tượng có thể là người giữ chức vụ quan trọng trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc, hoặc nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo, người dân tộc thiểu số, doanh nhân, người Việt Nam ở nước ngoài có đóng góp xứng đáng.
- “Huân chương Dũng cảm”: Tặng cho cá nhân có hành động dũng cảm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của nhân dân khi gặp hỏa hoạn, thiên tai, tai nạn, thảm họa hoặc bảo vệ tài sản, tính mạng của công dân trước tội phạm, hoặc dũng cảm xung phong vào nơi nguy hiểm do dịch bệnh.
Tiêu chuẩn chi tiết cho từng hạng của các loại Huân chương được quy định rất cụ thể về thời gian công tác, chức vụ đảm nhiệm, số lượng và phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến, thành tích đạt được, cũng như các điều kiện về chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật.
alt: Biểu mẫu kê khai thành tích theo Nghị định 91 2017
Tiêu chuẩn xét tặng Huy chương
Huy chương là một hình thức khen thưởng khác được quy định trong Nghị định 91/2017/NĐ-CP, thường được xét tặng dựa trên thời gian công tác, sự cống hiến và một số thành tích nhất định. Các loại Huy chương phổ biến bao gồm:
- “Huy chương Quân kỳ quyết thắng”, “Huy chương Vì an ninh Tổ quốc”, “Huy chương Chiến sĩ vẻ vang” (các hạng Nhất, Nhì, Ba): Các Huy chương này được xét tặng cho cá nhân trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân dựa trên thời gian phục vụ và mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Nghị định 91/2017/NĐ-CP dẫn chiếu việc thực hiện theo các Điều 54, 55, 56 của Luật thi đua, khen thưởng và bổ sung thêm yêu cầu về tinh thần tích cực công tác, học tập, hoàn thành tốt nhiệm vụ, trung thành với sự nghiệp cách mạng, và không phạm khuyết điểm lớn. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an sẽ quy định chi tiết hơn về đối tượng và tiêu chuẩn cụ thể. Nghị định cũng có quy định đặc biệt ưu đãi cho cá nhân làm nhiệm vụ ở vùng biển, đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, với việc nhân hệ số 2 thời gian công tác để tính xét tặng “Huy chương Chiến sĩ vẻ vang”. Trường hợp hy sinh khi làm nhiệm vụ ở những vùng này cũng được xem xét truy tặng Huy chương tương ứng với thời gian cống hiến.
- “Huy chương Hữu nghị”: Tặng cho cá nhân người nước ngoài có tinh thần đoàn kết hữu nghị, tôn trọng độc lập, chủ quyền, luật pháp Việt Nam, có đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại của Việt Nam, hoặc có đóng góp vào việc xây dựng, củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức nước ngoài. Tiêu chuẩn xét tặng thường dựa trên thời gian làm việc hoặc công tác liên tục, hoặc có đóng góp tích cực trong một khoảng thời gian nhất định.
Như vậy, hệ thống Huy chương ghi nhận sự cống hiến lâu dài trong các lĩnh vực đặc thù (quốc phòng, an ninh) và đóng góp của cá nhân, tập thể nước ngoài đối với Việt Nam.
Quy định về Kỷ niệm chương và Huy hiệu
Bên cạnh các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước như Huân chương, Huy chương, Nghị định 91/2017/NĐ-CP cũng đề cập đến Kỷ niệm chương và Huy hiệu là các hình thức khen thưởng của bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị, xã hội hoặc của cấp tỉnh.
- Kỷ niệm chương: Thường được xét tặng cho cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ và có thời gian tham gia công tác tại một bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nhất định. Kỷ niệm chương cũng có thể được tặng cho cá nhân có đóng góp vào quá trình phát triển của các cơ quan, tổ chức này. Tên, đối tượng và tiêu chuẩn xét tặng Kỷ niệm chương do chính bộ, ban, ngành, tổ chức đó quy định cụ thể.
- Huy hiệu: Thường được xét tặng cho cá nhân có đóng góp vào quá trình phát triển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tên, đối tượng và tiêu chuẩn xét tặng Huy hiệu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cho phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của địa phương.
Một quy định quan trọng là Kỷ niệm chương, Huy hiệu phải được đăng ký với Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trước khi ban hành và đưa vào sử dụng. Việc này nhằm đảm bảo tính thống nhất và quản lý chặt chẽ các hình thức khen thưởng không thuộc cấp Nhà nước.
Tiêu chuẩn xét tặng Bằng khen và Giấy khen
Bằng khen và Giấy khen là các hình thức khen thưởng phổ biến, được quy định tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP để ghi nhận thành tích của cá nhân và tập thể ở các cấp khác nhau, từ trung ương đến cơ sở.
-
“Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”: Dành cho cá nhân và tập thể gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiêu chuẩn đối với cá nhân bao gồm có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong phong trào thi đua do các cấp phát động từ 03 năm trở lên, hoặc lập được nhiều thành tích, thành tích đột xuất có phạm vi ảnh hưởng trong bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương. Cá nhân đã được tặng Bằng khen cấp bộ và 05 năm tiếp theo liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có sáng kiến hoặc mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu cũng có thể được xét tặng. Đối với tập thể, tiêu chuẩn tương tự, dựa trên thành tích trong phong trào thi đua hoặc thành tích đột xuất, và điều kiện đã được tặng Bằng khen cấp bộ và liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” còn có thể tặng cho gia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật và có đóng góp lớn về công sức, đất đai, tài sản cho địa phương, xã hội.
-
Bằng khen cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương: Dành cho cá nhân và tập thể gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tiêu chuẩn thấp hơn so với “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”, thường dựa trên thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua hàng năm do cấp bộ, tỉnh phát động, hoặc lập được nhiều thành tích, thành tích đột xuất có phạm vi ảnh hưởng ở một trong các lĩnh vực thuộc bộ, tỉnh. Cá nhân có 02 năm trở lên liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có sáng kiến được công nhận cũng có thể được xét tặng. Tập thể có 02 năm trở lên liên tục hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nội bộ đoàn kết, thực hiện tốt quy chế dân chủ, chăm lo đời sống, thực hành tiết kiệm, thực hiện đầy đủ chính sách cũng có thể được xét tặng. Bằng khen cấp bộ, tỉnh cũng được tặng cho gia đình gương mẫu và có nhiều đóng góp.
-
Giấy khen: Là hình thức khen thưởng ở cấp cơ sở, được quy định chi tiết tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP và các Điều 74, 75, 76 của Luật thi đua, khen thưởng. Giấy khen được tặng cho tập thể, cá nhân thuộc các cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp. Giấy khen cũng có thể tặng cho gia đình gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật và có đóng góp cho địa phương, xã hội. Việc tặng Giấy khen được khuyến khích tiến hành thường xuyên, kịp thời ngay sau khi kết thúc các đợt thi đua ngắn ngày, chuyên đề, hoặc hoàn thành một hạng mục công trình cụ thể. Thẩm quyền quyết định tặng Giấy khen thuộc về Thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp.
Các quy định này tạo ra hệ thống khen thưởng phân cấp rõ ràng, từ cơ sở đến trung ương, đảm bảo việc ghi nhận thành tích được thực hiện một cách kịp thời và phù hợp với mức độ đóng góp.
Khen thưởng quá trình cống hiến và chức danh tương đương
Khen thưởng quá trình cống hiến là một hình thức khen thưởng đặc biệt theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP, dành cho cá nhân có thời gian tham gia hoạt động trong các giai đoạn cách mạng khác nhau, giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý quan trọng và có công lao đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Nghị định quy định rõ thời gian tham gia công tác để xét khen thưởng quá trình cống hiến, phân loại theo các giai đoạn lịch sử như cán bộ tham gia hoạt động cách mạng trước năm 1945, cán bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ hoạt động liên tục trong 02 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cán bộ hoạt động trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp hoặc chống Mỹ, và cán bộ công tác trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975. Việc xét khen thưởng quá trình cống hiến thường được thực hiện khi cá nhân đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và đến tuổi nghỉ chế độ. Ngay cả các trường hợp đã hy sinh, từ trần cũng được xem xét truy tặng. Nghị định cũng có quy định về việc điều chỉnh mức khen thưởng nếu cá nhân đã được khen thưởng trước đây nhưng nay đối chiếu với quy định mới đủ tiêu chuẩn ở hình thức cao hơn, hoặc tiếp tục công tác và đạt thành tích đủ tiêu chuẩn xét khen thưởng.
Một điểm quan trọng trong xét khen thưởng quá trình cống hiến là quy định về thời gian và chức vụ xét khen thưởng. Nghị định cho phép cộng dồn thời gian giữ các chức vụ khác nhau để tính tiêu chuẩn, lấy chức vụ cao nhất làm căn cứ nếu cá nhân đảm nhiệm nhiều chức vụ cùng lúc. Trường hợp luân chuyển, điều động dẫn đến giữ chức vụ thấp hơn, vẫn được tính thời gian liên tục theo chức vụ trước đó để xét khen thưởng.
Bên cạnh đó, Nghị định 91/2017/NĐ-CP còn có Điều 42 quy định về các chức danh tương đương để làm căn cứ xét khen thưởng quá trình cống hiến. Việc này nhằm đảm bảo sự công bằng đối với các cá nhân giữ các chức vụ khác nhau nhưng có mức độ quan trọng và đóng góp tương đương trong hệ thống chính trị và xã hội. Các chức danh tương đương được quy định chi tiết ở các cấp như tương đương Bộ trưởng, tương đương Thứ trưởng/Phó Trưởng ban Đảng/Phó Trưởng đoàn thể Trung ương, tương đương Vụ trưởng/Cục trưởng, tương đương Phó Vụ trưởng/Phó Cục trưởng, tương đương Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tương đương Giám đốc Sở/Trưởng đoàn thể cấp tỉnh, tương đương Chủ tịch Hội đồng nhân dân/Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, và các chức danh tương đương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quy định. Quy định về chức danh tương đương giúp việc áp dụng tiêu chuẩn khen thưởng quá trình cống hiến được thống nhất và bao quát.
Thủ tục và quy trình xét tặng khen thưởng
Để đảm bảo tính minh bạch, khách quan và chính xác, Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định chi tiết về thủ tục, hồ sơ và quy trình xét tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng.
Thẩm quyền quyết định và trao tặng
Nghị định 91/2017/NĐ-CP phân cấp rõ ràng thẩm quyền quyết định tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến” cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý cấp xã và đề nghị cấp huyện xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”. Thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương có tư cách pháp nhân có thẩm quyền quyết định tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Tập thể lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ thi đua cơ sở”. Đối với các đơn vị không có tư cách pháp nhân, thẩm quyền quyết định thuộc về thủ trưởng cấp trên trực tiếp. Thủ trưởng cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng, tổng cục và tương đương thuộc Bộ Quốc phòng có thẩm quyền quyết định tặng danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”, “Tập thể lao động xuất sắc”.
Đối với các hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua cấp cao hơn, thẩm quyền quyết định thuộc về cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương, Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch nước. Việc trao tặng các hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua được thực hiện theo nghi thức quy định tại Nghị định số 145/2013/NĐ-CP. Đối với “Huân chương Hữu nghị”, “Huy chương Hữu nghị” tặng cho đối tượng nước ngoài, việc trao tặng có thể được tổ chức ở trong nước do cơ quan trình khen thưởng chủ trì, hoặc ở nước ngoài do Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chủ trì theo đề nghị của cơ quan trình khen thưởng.
Quy định chung về hồ sơ và thủ tục
Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định cụ thể về hồ sơ và thủ tục cần thiết khi đề nghị xét tặng các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng. Đối với việc xét tặng “Huân chương Sao vàng”, “Huân chương Hồ Chí Minh” cho tập thể và cá nhân thuộc sự quản lý của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, quy trình có sự tham gia xem xét, kết luận của Ban Cán sự Đảng Chính phủ hoặc Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đối với cá nhân thuộc Trung ương quản lý khi đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước và danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”, cần có ý kiến của Ban Tổ chức Trung ương về các nội dung quản lý cán bộ. Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy, Đảng ủy trực thuộc trung ương, Ban Cán sự đảng, Đảng đoàn các bộ, ngành, đoàn thể trung ương có trách nhiệm xem xét, cho ý kiến bằng văn bản trước khi trình Thủ tướng Chính phủ đối với các trường hợp khen thưởng cá nhân thuộc cấp ủy quản lý và các hình thức khen thưởng cấp cao.
Đối với cá nhân đã nghỉ hưu hoặc đơn vị đã giải thể, việc xem xét đề nghị khen thưởng do đơn vị tiếp nhận nhiệm vụ hoặc cơ quan quản lý cán bộ trước khi nghỉ hưu thực hiện. Nghị định cũng quy định đối với những cơ quan, tổ chức, đơn vị có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước hoặc doanh nghiệp, khi trình các hình thức khen thưởng cho tập thể hoặc thủ trưởng đơn vị, trong hồ sơ phải có văn bản xác nhận của cơ quan quản lý thuế về việc hoàn thành nghĩa vụ thuế, và báo cáo kết quả kiểm toán đối với doanh nghiệp trong thời gian từ 05 năm trở lên trước khi đề nghị khen thưởng. Khi xét các danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp bộ, tỉnh và danh hiệu Anh hùng, “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”, Hội đồng thi đua cấp bộ, tỉnh phải họp và bỏ phiếu kín, yêu cầu tỷ lệ phiếu đồng ý từ 90% trở lên. Hội đồng sáng kiến, Hội đồng khoa học các cấp có nhiệm vụ giúp người đứng đầu công nhận sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học làm căn cứ đề nghị xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua và các hình thức khen thưởng khác. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương thực hiện việc lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin điện tử đối với danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”, Anh hùng, và các bộ, tỉnh cũng thực hiện lấy ý kiến nhân dân trên phương tiện truyền thông của mình trước khi trình khen thưởng cấp cao. Hồ sơ đề nghị khen thưởng cần được gửi kèm file điện tử đến Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương, trừ văn bản mật.
Tuyến trình khen thưởng và hiệp y
Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định về tuyến trình khen thưởng và việc lấy ý kiến hiệp y nhằm đảm bảo sự phối hợp giữa các cấp và các cơ quan liên quan. Nguyên tắc chung là cấp nào quản lý về tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và quỹ lương thì cấp đó có trách nhiệm khen thưởng hoặc trình cấp trên khen thưởng đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý của mình. Nghị định làm rõ tuyến trình đối với các đối tượng đặc thù như Đại biểu Quốc hội chuyên trách, cán bộ thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan của Quốc hội do Văn phòng Quốc hội trình; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách ở địa phương do Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổng hợp hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khen thưởng hoặc trình cấp trên.
Đối với tập thể, cá nhân làm chuyên trách công tác đảng, đoàn thể, tuyến trình cũng dựa trên cấp quản lý tổ chức, cán bộ và quỹ lương. Nghị định quy định chi tiết tuyến trình đối với các hội ở trung ương và địa phương, cũng như đối với các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước) dựa trên cơ quan cấp phép hoạt động hoặc cơ quan quản lý vốn nhà nước.
Việc lấy ý kiến hiệp y là một thủ tục bắt buộc đối với các danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng cấp Nhà nước. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương là cơ quan thực hiện việc lấy ý kiến hiệp y. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị trung ương đóng trên địa bàn địa phương thuộc bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương quản lý phải lấy ý kiến hiệp y của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kết quả hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể (nếu sinh hoạt tại địa phương), và việc thực hiện chế độ bảo hiểm, môi trường, an toàn lao động (đối với đơn vị sản xuất kinh doanh). Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cấp tỉnh khi trình các hình thức khen thưởng cấp Nhà nước (như “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”, Huân chương, danh hiệu Anh hùng, “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”) phải lấy ý kiến hiệp y của bộ, ban, ngành, đoàn thể trung ương có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực. Khen thưởng đối ngoại phải lấy ý kiến của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao. Thời hạn trả lời ý kiến hiệp y được quy định cụ thể là 20 ngày làm việc. Sau thời hạn này nếu không có ý kiến, hồ sơ vẫn được tiếp tục xử lý, và thủ trưởng cơ quan được xin ý kiến chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung được xin ý kiến.
Quy định về thời gian và thẩm định hồ sơ
Nghị định 91/2017/NĐ-CP đặt ra các khung thời gian cụ thể cho việc nhận hồ sơ, thẩm định và thông báo kết quả khen thưởng nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý hồ sơ. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương nhận hồ sơ đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước theo các mốc thời gian nhất định trong năm, tùy thuộc vào loại hình khen thưởng và danh hiệu. Chẳng hạn, hồ sơ đề nghị danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” gửi chậm nhất ngày 31 tháng 10 hàng năm, hồ sơ “Cờ thi đua của Chính phủ” gửi trước ngày 31 tháng 3 hàng năm (trừ hệ thống giáo dục đào tạo trình trước ngày 15 tháng 10), hồ sơ khen thưởng theo công trạng gửi chậm nhất ngày 30 tháng 6 hàng năm (trừ các trường hợp đột xuất, quá trình cống hiến, đối ngoại và hệ thống giáo dục đào tạo). Hồ sơ đề nghị danh hiệu Anh hùng được gửi trong một khoảng thời gian nhất định trước Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc.
Thời gian thẩm định hồ sơ tại Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương và trình Thủ tướng Chính phủ là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ (30 ngày làm việc đối với trường hợp phải lấy ý kiến hiệp y). Đối với các hình thức khen thưởng cấp cao hơn, thời gian thẩm định có thể lâu hơn. Nghị định cũng quy định thời gian thẩm định hồ sơ tại các cấp dưới (cấp xã, cấp huyện, cơ quan, đơn vị thuộc bộ, tỉnh), thường là 20 ngày làm việc. Tại cấp bộ, tỉnh, thời gian thẩm định là 25 ngày làm việc đối với khen thưởng thuộc thẩm quyền quyết định của cấp đó, và 20 hoặc 30 ngày làm việc đối với khen thưởng trình cấp Nhà nước.
Về thời gian thông báo kết quả khen thưởng, Nghị định quy định trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định khen thưởng của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương phải thông báo kết quả cho cơ quan trình khen thưởng. Cơ quan trình khen thưởng cũng có 10 ngày làm việc để thông báo và gửi kết quả cho các trường hợp được khen thưởng. Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thời gian thông báo cho cơ quan trình khen thưởng cũng là 10 ngày làm việc.
Hồ sơ cụ thể cho từng danh hiệu, hình thức khen thưởng
Mỗi danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng được quy định chi tiết về số lượng và thành phần hồ sơ cần nộp theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP. Quy định này nhằm đảm bảo sự đầy đủ và chính xác của thông tin phục vụ quá trình xét duyệt.
- Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”: Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ bao gồm 02 bộ bản chính, gồm Tờ trình của bộ, tỉnh, báo cáo thành tích cá nhân có xác nhận, biên bản họp và kết quả bỏ phiếu kín của Hội đồng thi đua cấp bộ, tỉnh, và chứng nhận về hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến, đề tài hoặc thành tích chiến đấu. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trình Thủ tướng 01 bộ bản chính gồm Tờ trình của Ban kèm danh sách và toàn bộ hồ sơ liên quan.
- Danh hiệu Chiến sĩ thi đua các cấp và danh hiệu thi đua khác: Hồ sơ đề nghị xét tặng các danh hiệu như Chiến sĩ thi đua cấp bộ, Chiến sĩ thi đua cơ sở, Lao động tiên tiến, Chiến sĩ tiên tiến, Tập thể lao động xuất sắc, Đơn vị quyết thắng, Tập thể lao động tiên tiến, Đơn vị tiên tiến có 01 bộ bản chính, gồm văn bản đề nghị, báo cáo thành tích, biên bản họp bình xét thi đua, và chứng nhận sáng kiến/đề tài/thành tích chiến đấu (nếu có).
- “Cờ thi đua của Chính phủ”: Hồ sơ trình Thủ tướng có 02 bộ bản chính, gồm Tờ trình của bộ, tỉnh, báo cáo thành tích của tập thể có xác nhận, và biên bản, kết quả bỏ phiếu kín của Hội đồng thi đua cấp bộ, tỉnh. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trình Thủ tướng 01 bộ bản chính gồm Tờ trình của Ban kèm danh sách và hồ sơ liên quan.
- Huân chương các loại: Hồ sơ đề nghị tặng Huân chương có 03 bộ bản chính, gồm Tờ trình của bộ, tỉnh, báo cáo thành tích có xác nhận, biên bản họp xét khen thưởng của Hội đồng thi đua cấp bộ, tỉnh, và xác nhận về sáng kiến/phát minh (nếu có). Hồ sơ khen thưởng cho người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài cũng có 03 bộ bản chính, gồm Tờ trình, báo cáo thành tích do cơ quan trình thực hiện, và văn bản xác nhận về nghĩa vụ đối với Nhà nước Việt Nam (nếu có). Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trình Thủ tướng 02 bộ bản chính gồm Tờ trình của Ban kèm danh sách và hồ sơ liên quan.
- “Huân chương Đại đoàn kết dân tộc”: Được xét tặng hàng năm vào dịp Quốc khánh 02/9 và ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất 18/11. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh hoặc Hội đồng thi đua cấp bộ, tỉnh xét và trình Thủ tướng Chính phủ. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương chủ trì, phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thẩm định.
- Huy chương các loại: Hồ sơ đề nghị tặng các Huy chương như “Huy chương Quân kỳ quyết thắng”, “Huy chương Vì an ninh Tổ quốc”, “Huy chương Chiến sĩ vẻ vang” có 03 bộ bản chính, gồm Tờ trình và danh sách trích ngang. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trình Thủ tướng 02 bộ bản chính gồm Tờ trình của Ban kèm danh sách và hồ sơ liên quan.
- Hồ sơ đơn giản: Áp dụng cho các trường hợp khen thưởng đột xuất, được thực hiện theo Điều 85 của Luật thi đua, khen thưởng. Hồ sơ có 03 bộ bản chính, gồm Tờ trình và bản tóm tắt thành tích. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trình Thủ tướng 02 bộ bản chính gồm Tờ trình của Ban kèm danh sách và hồ sơ liên quan.
- Danh hiệu Anh hùng: Hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Tỉnh anh hùng”, “Thành phố anh hùng”, “Anh hùng Lao động”, “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” có 03 bộ bản chính, gồm Tờ trình của bộ, tỉnh, báo cáo thành tích có xác nhận, và biên bản, kết quả bỏ phiếu kín của Hội đồng thi đua cấp bộ, tỉnh. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trình Thủ tướng 02 bộ bản chính gồm Tờ trình của Ban kèm danh sách và hồ sơ liên quan. Danh hiệu Anh hùng thường được xét tặng 05 năm một lần vào dịp Đại hội thi đua yêu nước, trừ trường hợp đặc biệt xuất sắc đột xuất.
- “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ”: Hồ sơ đề nghị có 02 bộ bản chính, gồm Tờ trình của bộ, tỉnh, báo cáo thành tích có xác nhận, và biên bản họp xét khen thưởng của Hội đồng thi đua cấp bộ, tỉnh. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương trình Thủ tướng 01 bộ bản chính gồm Tờ trình của Ban kèm danh sách và hồ sơ liên quan.
Các quy định chi tiết về hồ sơ tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP và các mẫu văn bản kèm theo (Phụ lục) giúp việc chuẩn bị và nộp hồ sơ khen thưởng được thực hiện thống nhất và đầy đủ.
Quản lý Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng
Công tác thi đua, khen thưởng được quản lý chặt chẽ ở cấp Nhà nước để đảm bảo hiệu quả và phát huy tác dụng tích cực trong xã hội. Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định về các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Tuyên truyền, phổ biến điển hình tiên tiến
Một trong những hoạt động quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng được nêu tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP là đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến nhân rộng điển hình tiên tiến. Hàng năm, Thủ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền bao gồm tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thi đua, khen thưởng.
Đặc biệt, việc tuyên truyền và nhân rộng những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt được chú trọng. Các cơ quan có trách nhiệm lựa chọn các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong phong trào thi đua để biểu dương, tôn vinh và khen thưởng kịp thời. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương đóng vai trò phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, biểu dương, tôn vinh, và nhân rộng các điển hình tiên tiến trên phạm vi toàn quốc. Hoạt động này góp phần tạo động lực, khích lệ và lan tỏa những tấm gương tích cực trong xã hội, thúc đẩy tinh thần thi đua trong mọi lĩnh vực đời sống.
Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ
Để nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng, Nghị định 91/2017/NĐ-CP nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác này. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương được giao trách nhiệm xây dựng nội dung, chương trình, giáo trình, và tài liệu phục vụ việc đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi cả nước. Cơ quan này cũng phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh để xây dựng nội dung và đưa vào giảng dạy trong hệ thống các trường chính trị trên toàn quốc.
Các cơ quan chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng ở các cấp cũng có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm để tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua, khen thưởng thuộc phạm vi quản lý của mình. Việc liên tục đào tạo, bồi dưỡng giúp cán bộ nắm vững các quy định của pháp luật, nâng cao kỹ năng tổ chức phong trào thi đua, xét duyệt hồ sơ khen thưởng một cách chính xác, khách quan và hiệu quả, từ đó góp phần nâng cao chất lượng chung của công tác thi đua, khen thưởng.
Thanh tra, kiểm tra công tác thi đua, khen thưởng
Hoạt động thanh tra, kiểm tra là cần thiết để đảm bảo việc thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng được nghiêm chỉnh chấp hành. Theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP, Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương có trách nhiệm tham mưu xây dựng kế hoạch thanh tra chuyên ngành việc thực hiện các quy định này. Cơ quan này cũng tham mưu cho Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương thực hiện kiểm tra, giám sát công tác thi đua, khen thưởng trên toàn quốc. Mục tiêu của hoạt động kiểm tra, giám sát là kịp thời phát hiện các tồn tại, hạn chế, bổ sung các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác, và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi quản lý nhà nước của các bộ, ban, ngành, tỉnh.
Các cơ quan chuyên trách làm công tác thi đua, khen thưởng ở các cấp cũng tham mưu cho Hội đồng thi đua, khen thưởng cùng cấp xây dựng kế hoạch hàng năm và tổ chức kiểm tra việc tổ chức phong trào thi đua và thực hiện chính sách pháp luật về thi đua, khen thưởng. Hoạt động thanh tra, kiểm tra giúp phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, tiêu cực, đảm bảo tính công khai, minh bạch và công bằng trong công tác thi đua, khen thưởng, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào công tác này.
Cơ cấu tổ chức Hội đồng Thi đua – Khen thưởng
Hệ thống Hội đồng Thi đua – Khen thưởng được tổ chức ở các cấp theo quy định tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP để thực hiện vai trò tham mưu, tư vấn cho cấp ủy đảng và chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng.
- Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương: Là cơ quan tham mưu, tư vấn cho Đảng và Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng trong phạm vi toàn quốc. Chủ tịch Hội đồng là Thủ tướng Chính phủ. Hội đồng có các Phó Chủ tịch, bao gồm Phó Chủ tịch nước (Phó Chủ tịch thứ nhất), Thứ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Trưởng ban Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương (Phó Chủ tịch thường trực), Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Phó Chủ tịch). Thành phần và số lượng các ủy viên khác do Chủ tịch Hội đồng quyết định. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương là cơ quan thường trực của Hội đồng này.
- Hội đồng Thi đua – Khen thưởng cấp bộ: Là cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể trung ương về công tác thi đua, khen thưởng trong phạm vi bộ, ngành mình. Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu bộ, ngành. Hội đồng có từ 03 đến 04 Phó Chủ tịch, trong đó Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng hoặc Trưởng phòng (ban) thi đua, khen thưởng là Phó Chủ tịch hoặc Ủy viên thường trực. Thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng cấp bộ do người đứng đầu bộ, ngành hướng dẫn. Vụ (Phòng, Ban) Thi đua, khen thưởng là thường trực của Hội đồng cấp bộ.
- Hội đồng Thi đua – Khen thưởng cấp tỉnh: Là cơ quan tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về công tác thi đua, khen thưởng của địa phương. Chủ tịch Hội đồng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Hội đồng có từ 03 đến 04 Phó Chủ tịch, trong đó Phó Giám đốc Sở Nội vụ kiêm Trưởng ban Ban Thi đua – Khen thưởng cấp tỉnh làm Phó Chủ tịch thường trực. Thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn. Ban Thi đua – Khen thưởng cấp tỉnh là cơ quan thường trực của Hội đồng này.
Cơ cấu tổ chức Hội đồng Thi đua – Khen thưởng được thiết lập từ trung ương đến địa phương, đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành và thực hiện công tác thi đua, khen thưởng được đồng bộ và hiệu quả.
Quỹ thi đua, khen thưởng: Lập, sử dụng và quản lý
Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định rõ về việc lập, sử dụng và quản lý Quỹ thi đua, khen thưởng nhằm đảm bảo có nguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động thi đua và chi trả tiền thưởng cho các danh hiệu và hình thức khen thưởng.
Nguồn hình thành và mức trích Quỹ
Quỹ thi đua, khen thưởng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau theo quy định tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP. Nguồn chính bao gồm ngân sách nhà nước cấp hàng năm cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, và các cấp ngân sách địa phương (tỉnh, huyện, xã). Đối với các bộ, cơ quan trung ương, mức trích tối đa là 20% tổng quỹ tiền lương theo ngạch, bậc và tiền công được duyệt cả năm. Đối với cấp tỉnh, huyện, xã, mức trích tối đa từ chi ngân sách thường xuyên là 1,0% đối với các tỉnh đồng bằng, thành phố và 1,5% đối với các tỉnh miền núi, trung du, Tây Nguyên, vùng sâu, vùng xa.
Ngoài nguồn ngân sách nhà nước, Quỹ thi đua, khen thưởng còn được bổ sung từ nguồn quỹ khen thưởng của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Đặc biệt, Nghị định cho phép tiếp nhận sự đóng góp của cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài. Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định rõ việc nghiêm cấm sử dụng Quỹ thi đua, khen thưởng vào các mục đích khác ngoài việc phục vụ công tác thi đua, khen thưởng.
Đối với các tổ chức chính trị, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, Quỹ thi đua, khen thưởng được cấp từ nguồn ngân sách nhà nước theo tỷ lệ do Bộ Tài chính thống nhất hàng năm. Các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, nghề nghiệp tự quyết định mức trích từ khả năng tài chính và nguồn đóng góp. Đối với doanh nghiệp nhà nước, Quỹ được trích từ quỹ thi đua, khen thưởng theo quy định tại Nghị định số 91/2015/NĐ-CP. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các thành phần kinh tế khác tự quyết định việc lập, quản lý, sử dụng quỹ sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế. Hợp tác xã cũng trích từ quỹ không chia và nguồn đóng góp.
Nguyên tắc và mức tiền thưởng cụ thể
Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định rõ nguyên tắc tính tiền thưởng và mức tiền thưởng cụ thể cho từng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng, dựa trên mức lương cơ sở do Chính phủ quy định tại thời điểm ban hành quyết định khen thưởng. Tiền thưởng được tính bằng cách nhân mức lương cơ sở với hệ số quy định cho từng danh hiệu, hình thức khen thưởng, sau đó làm tròn số lên hàng chục ngàn đồng.
Nguyên tắc tính tiền thưởng bao gồm: danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cao hơn thì mức tiền thưởng cao hơn. Trong cùng một hình thức, cùng một mức khen thưởng, mức tiền thưởng đối với tập thể cao hơn đối với cá nhân. Trong cùng một thời điểm, cùng một thành tích, nếu đối tượng đạt nhiều danh hiệu thi đua với mức tiền thưởng khác nhau thì chỉ nhận mức tiền thưởng cao nhất. Tuy nhiên, nếu trong cùng thời điểm, một đối tượng đạt nhiều danh hiệu thi đua mà thời gian để đạt được các danh hiệu đó khác nhau, thì được nhận tiền thưởng của các danh hiệu đó. Đặc biệt, trong cùng thời điểm, nếu một đối tượng vừa đạt danh hiệu thi đua vừa đạt hình thức khen thưởng, thì được nhận cả tiền thưởng của danh hiệu thi đua và của hình thức khen thưởng.
Mức tiền thưởng cụ thể được quy định rõ tại Điều 69, 70, 71, 72, 73, 74 của Nghị định. Ví dụ, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” được thưởng 4,5 lần mức lương cơ sở; “Cờ thi đua của Chính phủ” được thưởng 12,0 lần mức lương cơ sở. Đối với Huân chương, mức tiền thưởng cho cá nhân dao động từ 4,5 lần mức lương cơ sở (“Huân chương Lao động” hạng ba, “Huân chương Chiến công” hạng ba, “Huân chương Bảo vệ Tổ quốc” hạng ba, “Huân chương Dũng cảm”) đến 46,0 lần mức lương cơ sở (“Huân chương Sao vàng”). Tập thể được tặng Huân chương có mức tiền thưởng gấp hai lần cá nhân. Danh hiệu vinh dự nhà nước như Anh hùng được thưởng 15,5 lần mức lương cơ sở cho cá nhân (gấp đôi cho tập thể), danh hiệu “Nhà giáo nhân dân”, “Thầy thuốc nhân dân”, “Nghệ sĩ nhân dân”, “Nghệ nhân nhân dân” được thưởng 12,5 lần mức lương cơ sở. “Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ” được thưởng 3,5 lần mức lương cơ sở cho cá nhân (gấp đôi cho tập thể). Bằng khen cấp bộ, tỉnh thưởng 1,0 lần mức lương cơ sở cho cá nhân (gấp đôi cho tập thể). Giấy khen các cấp có mức tiền thưởng thấp hơn, dao động từ 0,15 đến 0,3 lần mức lương cơ sở cho cá nhân (gấp đôi cho tập thể). Huy chương các loại thưởng 1,5 lần mức lương cơ sở cho cá nhân.
Quản lý và sử dụng Quỹ hiệu quả
Công tác quản lý và sử dụng Quỹ thi đua, khen thưởng được quy định tại Nghị định 91/2017/NĐ-CP nhằm đảm bảo nguồn kinh phí này được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Quỹ thi đua, khen thưởng của cấp nào do cơ quan thi đua, khen thưởng phối hợp với cơ quan tài chính cấp đó quản lý. Ở cấp tỉnh, nguồn kinh phí này do Ban Thi đua – Khen thưởng của tỉnh phối hợp với cơ quan tài chính tỉnh quản lý và sử dụng trên cơ sở dự toán được duyệt, và việc quyết toán dựa trên chi thực tế theo đúng chế độ, chính sách.
Thủ trưởng các cơ quan ở các cấp chịu trách nhiệm chi tiền thưởng cho các tập thể, cá nhân thuộc biên chế, quỹ lương do cấp mình quản lý. Các trường hợp được Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước quyết định khen thưởng nhưng thuộc phạm vi quản lý của bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương thì bộ, tỉnh đó có trách nhiệm chi tiền thưởng từ ngân sách nhà nước của cấp mình và hạch toán chi thành mục riêng.
Quỹ thi đua, khen thưởng được sử dụng để chi cho việc tổ chức thực hiện phong trào thi đua và chi thưởng đối với các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng. Chi phí này bao gồm chi cho in ấn, làm hiện vật khen thưởng (bằng, giấy chứng nhận, huân chương, huy chương, cờ thi đua, v.v.), chi tiền thưởng hoặc tặng phẩm lưu niệm. Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương sử dụng ngân sách nhà nước cấp hàng năm để chi in ấn và làm hiện vật khen thưởng kèm theo các hình thức khen thưởng do Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định. Nghị định cũng quy định mức trích 20% trong tổng Quỹ thi đua, khen thưởng của từng cấp để chi cho các hoạt động tổ chức, chỉ đạo, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, công tác tuyên truyền, phổ biến nhân rộng điển hình tiên tiến, thanh tra, kiểm tra, và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về công tác thi đua, khen thưởng. Đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cá nhân, tập thể người nước ngoài được khen thưởng, họ được nhận các danh hiệu, hình thức khen thưởng và kèm theo tặng phẩm lưu niệm.
Các quyền lợi khác đi kèm khen thưởng
Bên cạnh việc được công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng và nhận tiền thưởng hoặc tặng phẩm, cá nhân đạt được các danh hiệu, hình thức khen thưởng cao theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP còn được hưởng một số quyền lợi khác.
Cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ban, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương, danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”, được tặng Huân chương, danh hiệu vinh dự Nhà nước (như Anh hùng, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân), “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước” được ưu tiên xem xét nâng bậc lương sớm trước thời hạn theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, các cá nhân này còn được ưu tiên cử đi nghiên cứu, học tập, công tác, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cả ở trong nước và ngoài nước. Những quyền lợi khác này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với những cá nhân xuất sắc, không chỉ ghi nhận thành tích đã đạt được mà còn tạo điều kiện để họ tiếp tục phát triển, nâng cao năng lực và đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Điều này góp phần khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức và người lao động không ngừng phấn đấu, rèn luyện và cống hiến.
Quyền, nghĩa vụ và việc xử lý danh hiệu
Nghị định 91/2017/NĐ-CP không chỉ quy định về việc xét tặng khen thưởng mà còn đề cập đến quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tập thể được khen thưởng, cũng như các quy định về việc hủy bỏ quyết định khen thưởng và tước hoặc phục hồi danh hiệu trong các trường hợp cụ thể.
Quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tập thể
Cá nhân và tập thể tham gia vào công tác thi đua, khen thưởng đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định được quy định trong Nghị định 91/2017/NĐ-CP. Về quyền, cá nhân, tập thể được quyền tham gia các phong trào thi đua do Nhà nước, cơ quan, tổ chức, đơn vị phát động. Họ cũng có quyền được đề nghị xét tặng các danh hiệu, hình thức khen thưởng theo đúng quy định của pháp luật khi đạt đủ tiêu chuẩn. Một quyền quan trọng khác là quyền góp ý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xét tặng danh hiệu, hình thức khen thưởng cho các cá nhân, tập thể khác có đủ thành tích và tiêu chuẩn. Ngược lại, họ cũng có quyền đề nghị cấp có thẩm quyền không xét tặng hoặc thu hồi các danh hiệu, hình thức khen thưởng đã được tặng nhưng không đúng tiêu chuẩn hoặc không đúng thủ tục theo quy định pháp luật.
Về nghĩa vụ, cá nhân và tập thể trong công tác thi đua, khen thưởng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật, của cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến công tác này. Cá nhân, tập thể đã được khen thưởng có nghĩa vụ bảo quản cẩn thận các hiện vật khen thưởng và tuyệt đối không được cho người khác mượn để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Cuối cùng, một nghĩa vụ mang tính tự trọng là từ chối nhận danh hiệu hoặc hình thức khen thưởng nếu cảm thấy không xứng đáng với thành tích thực tế hoặc việc khen thưởng đó không đúng tiêu chuẩn, thủ tục do pháp luật quy định. Việc thực hiện tốt cả quyền và nghĩa vụ góp phần xây dựng một môi trường thi đua, khen thưởng lành mạnh và công bằng.
Hủy bỏ quyết định khen thưởng và thu hồi
Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định về việc hủy bỏ quyết định khen thưởng trong trường hợp cá nhân có hành vi gian dối trong việc kê khai thành tích để được khen thưởng các hình thức như Huân chương, Huy chương, Bằng khen, Giấy khen. Khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền xác định rõ việc gian dối này, quyết định khen thưởng sẽ bị hủy bỏ. Cơ quan trình khen thưởng có trách nhiệm đề nghị cấp có thẩm quyền ban hành quyết định hủy bỏ và tiến hành thu hồi hiện vật khen thưởng cùng với tiền thưởng đã nhận.
Hồ sơ đề nghị hủy bỏ quyết định bao gồm Tờ trình của cơ quan trực tiếp trình khen thưởng và báo cáo tóm tắt nêu rõ lý do đề nghị hủy bỏ. Ngoài trường hợp gian dối, nếu tập thể, cá nhân đã được tặng danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng mà sau đó cơ quan có thẩm quyền kết luận có sai phạm, khuyết điểm trong khoảng thời gian tính thành tích đề nghị khen thưởng, thì tùy theo mức độ sai phạm có thể bị hạ mức khen thưởng hoặc hủy bỏ quyết định khen thưởng. Quy định này không áp dụng đối với những cá nhân đã hy sinh, từ trần. Sau khi có quyết định hủy bỏ hình thức khen thưởng, cơ quan trình khen thưởng có trách nhiệm thu hồi hiện vật khen thưởng để nộp về cơ quan làm công tác thi đua, khen thưởng cùng cấp, đồng thời thu hồi tiền thưởng để nộp vào ngân sách nhà nước hoặc quỹ thi đua, khen thưởng theo quy định.
Thủ tục tước hoặc phục hồi danh hiệu
Đối với các danh hiệu vinh dự nhà nước (như Anh hùng, Nhà giáo nhân dân, Thầy thuốc nhân dân…), Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định về thủ tục tước hoặc phục hồi danh hiệu. Cá nhân được tặng thưởng danh hiệu vinh dự nhà nước nếu vi phạm pháp luật hình sự, bị tòa án xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật và bị tuyên án từ hình phạt tù có thời hạn trở lên, thì sẽ bị tước danh hiệu vinh dự nhà nước. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực, cơ quan trình khen thưởng có trách nhiệm trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Chủ tịch nước quyết định việc tước danh hiệu này.
Sau khi có quyết định tước danh hiệu của Chủ tịch nước, trong vòng 15 ngày, cơ quan trình khen thưởng phải thu hồi hiện vật khen thưởng để nộp về cơ quan làm công tác thi đua, khen thưởng cùng cấp, và thu hồi tiền thưởng để nộp vào ngân sách nhà nước hoặc quỹ thi đua, khen thưởng. Ngược lại, nếu cá nhân bị xét xử oan, sai và sau đó được cơ quan có thẩm quyền minh oan, sửa sai, thì họ sẽ được xem xét phục hồi và trao lại danh hiệu vinh dự nhà nước. Hồ sơ đề nghị tước, phục hồi hoặc trao lại danh hiệu bao gồm Tờ trình của cấp có thẩm quyền và báo cáo tóm tắt nêu rõ lý do đề nghị, kèm theo ý kiến của cấp có thẩm quyền. Các quy định này đảm bảo rằng danh hiệu vinh dự nhà nước được trao tặng và duy trì xứng đáng với công lao và phẩm chất của người được tặng.
Điều khoản thi hành Nghị định 91/2017/NĐ-CP
Chương cuối cùng của Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định về hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Nghị định này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2017, thay thế các Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, Nghị định số 39/2012/NĐ-CP và Nghị định số 65/2014/NĐ-CP trước đó.
Đối với việc xét tặng một số danh hiệu vinh dự nhà nước đặc thù như “Nhà giáo nhân dân”, “Nhà giáo ưu tú”, “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”, “Nghệ sĩ nhân dân”, “Nghệ sĩ ưu tú”, “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú”, và các giải thưởng như “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng Nhà nước”, Nghị định 91/2017/NĐ-CP quy định việc này sẽ được thực hiện theo các nghị định riêng của Chính phủ quy định việc xét tặng các giải thưởng, danh hiệu tương ứng.
Nghị định giao trách nhiệm cho các tổ chức chính trị, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong phạm vi cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý, căn cứ Luật thi đua, khen thưởng và Nghị định 91/2017/NĐ-CP. Bộ Nội vụ được giao trách nhiệm quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định này. Đồng thời, Nghị định cũng nêu rõ trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cùng các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân liên quan trong việc thi hành Nghị định này.
Các điều khoản thi hành này đảm bảo rằng Nghị định được áp dụng một cách thống nhất và hiệu quả trên toàn quốc, đồng thời phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc triển khai và hướng dẫn thực hiện, góp phần đưa công tác thi đua, khen thưởng đi vào nền nếp.
Câu hỏi thường gặp về Nghị định 91/2017/NĐ-CP
Nghị định 91/2017/NĐ-CP là văn bản pháp lý quan trọng hướng dẫn Luật thi đua, khen thưởng. Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp liên quan đến Nghị định này:
-
Nghị định 91/2017/NĐ-CP có còn hiệu lực không?
Nghị định 91/2017/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2017 và hiện vẫn là văn bản quy định chi tiết thi hành Luật thi đua, khen thưởng hiện hành. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Luật thi đua, khen thưởng đã có Luật số 06/2022/QH15 (có hiệu lực từ 01/01/2024) thay thế Luật cũ. Do đó, các quy định chi tiết thi hành Luật mới sẽ được ban hành bằng các nghị định thay thế Nghị định 91/2017/NĐ-CP trong tương lai. Hiện tại, Nghị định 91/2017/NĐ-CP vẫn áp dụng cho các trường hợp khen thưởng dựa trên Luật thi đua, khen thưởng cũ. -
Đối tượng nào được áp dụng theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP?
Đối tượng áp dụng của Nghị định rất rộng, bao gồm công dân Việt Nam, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang, gia đình, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài và các tổ chức nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam. -
Làm thế nào để đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”?
Để đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP, cá nhân cần đạt tiêu chuẩn “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và có sáng kiến cải tiến, giải pháp công tác được cơ sở công nhận hoặc có đề tài nghiên cứu khoa học được áp dụng mang lại hiệu quả, hoặc có sự mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu. -
Mức tiền thưởng cho các danh hiệu và hình thức khen thưởng được tính như thế nào?
Mức tiền thưởng được tính dựa trên mức lương cơ sở do Chính phủ quy định tại thời điểm ban hành quyết định khen thưởng, nhân với hệ số quy định cụ thể cho từng danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng trong Nghị định 91/2017/NĐ-CP. -
Trường hợp nào thì quyết định khen thưởng bị hủy bỏ?
Quyết định khen thưởng bị hủy bỏ theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP nếu cá nhân gian dối trong việc kê khai thành tích để được khen thưởng. Ngoài ra, nếu có sai phạm, khuyết điểm trong thời gian tính thành tích được xác định sau khi khen thưởng, tùy mức độ có thể bị hạ mức hoặc hủy bỏ quyết định. -
Danh hiệu vinh dự nhà nước có thể bị tước không?
Có. Theo Nghị định 91/2017/NĐ-CP, danh hiệu vinh dự nhà nước có thể bị tước nếu cá nhân vi phạm pháp luật hình sự và bị tuyên án từ hình phạt tù có thời hạn trở lên bởi bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Việc tìm hiểu kỹ Nghị định 91/2017/NĐ-CP giúp mọi người nắm rõ các quy định liên quan đến thi đua, khen thưởng, từ đó tích cực tham gia các phong trào và thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình.
Hiểu rõ Nghị định 91/2017/NĐ-CP về thi đua, khen thưởng là điều cần thiết cho mọi cá nhân và tổ chức tại Việt Nam. Văn bản này không chỉ là cơ sở pháp lý quan trọng để đánh giá và tôn vinh những đóng góp xứng đáng mà còn là động lực để thúc đẩy tinh thần cống hiến, lao động sáng tạo trong mọi lĩnh vực. Edupace hy vọng bài viết này đã cung cấp thông tin hữu ích, giúp bạn đọc nắm bắt được những nội dung cốt lõi của Nghị định, từ đó áp dụng hiệu quả vào công tác thi đua, khen thưởng tại đơn vị và trong cuộc sống cá nhân.





