Nghị định 69/2018/NĐ-CP là văn bản pháp luật quan trọng, hướng dẫn chi tiết việc thực thi Luật Quản lý ngoại thương. Được ban hành năm 2018, Nghị định này đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất và nhiều hình thức giao thương quốc tế khác tại Việt Nam. Việc nắm vững các quy định trong Nghị định 69/2018/NĐ-CP giúp doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh ngoại thương hiệu quả.

Nội Dung Bài Viết

Chương I. QUY ĐỊNH CHUNG

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết nhiều khía cạnh quan trọng của hoạt động ngoại thương. Cụ thể, Nghị định tập trung vào việc hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Thương mạiLuật Quản lý ngoại thương, bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế dưới nhiều hình thức như xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩuquá cảnh. Bên cạnh đó, Nghị định cũng đề cập đến các hoạt động liên quan khác tới mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên quy định pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ngoài ra, Nghị định còn quy định về quy trình giải quyết tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các biện pháp quản lý ngoại thương. Hàng hóa đặc thù như tài sản di chuyển, hành lý cá nhân, quà biếu, quà tặng hoặc hàng mẫu phục vụ mục đích nhân đạo sẽ được thực hiện theo các quy định riêng của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Đối tượng áp dụng của Nghị định 69/2018/NĐ-CP rất đa dạng, bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về ngoại thương. Bên cạnh đó, các thương nhân tham gia trực tiếp vào hoạt động ngoại thương, cả thương nhân Việt Namthương nhân nước ngoài, cũng là đối tượng chịu sự điều chỉnh của Nghị định này. Cuối cùng, bất kỳ tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài nào khác có liên quan đến hoạt động ngoại thương đều phải tuân thủ các quy định được nêu trong Nghị định.

Chương II. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

Quyền tự do kinh doanh và các thủ tục cơ bản

Quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu được quy định rõ trong Nghị định 69/2018/NĐ-CP. Thương nhân Việt Nam, không bao gồm tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, có quyền tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu mọi loại hàng hóa mà không phụ thuộc vào ngành, nghề đã đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, quyền này bị giới hạn đối với các mặt hàng nằm trong Danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu theo quy định của Nghị định và pháp luật khác. Các chi nhánh của thương nhân Việt Nam cũng có thể thực hiện hoạt động ngoại thương theo ủy quyền.

Đối với tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam, việc tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu phải tuân thủ các cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cùng với danh mục hàng hóa và lộ trình do Bộ Công Thương công bố. Đồng thời, họ cũng phải thực hiện theo các quy định tại Nghị định 69/2018/NĐ-CP và pháp luật liên quan khác. Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân tại các nước thành viên WTO và các nước có thỏa thuận song phương với Việt Nam sẽ thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.

Về thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu, Nghị định phân loại rõ ràng các trường hợp. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân bắt buộc phải có giấy phép được cấp bởi bộ hoặc cơ quan ngang bộ liên quan. Nếu hàng hóa thuộc diện theo điều kiện, thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật hiện hành. Đối với hàng hóa nằm trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra theo quy định của Luật Quản lý ngoại thương, thương nhân phải chịu sự kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền. Chỉ những hàng hóa không thuộc các trường hợp trên mới chỉ cần thực hiện thủ tục tại cơ quan hải quan.

<>Xem Thêm Bài Viết:<>

Hàng hóa bị hạn chế và quy định riêng

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về các loại hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu. Các mặt hàng này được liệt kê cụ thể trong Phụ lục I của Nghị định, ngoài ra còn có các quy định cấm khác trong các văn bản pháp luật hiện hành. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm công bố chi tiết danh mục này cùng với mã số hàng hóa (mã HS), sau khi thống nhất với Bộ Công Thương về danh mục và Bộ Tài chính về mã HS. Trong trường hợp đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ có thể xem xét cho phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu các mặt hàng cấm này nhằm phục vụ các mục đích đặc dụng như bảo hành, phân tích, nghiên cứu khoa học, y tế, quốc phòng, an ninh.

Việc chỉ định thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu cũng được quy định tại Phụ lục II của Nghị định. Việc chỉ định này sẽ do các cơ quan có thẩm quyền tương ứng thực hiện theo quy định cụ thể.

Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện được quy định tại Phụ lục III. Dựa trên Phụ lục này, các bộ, cơ quan ngang bộ sẽ công bố chi tiết hàng hóa kèm mã HS và ban hành quy định chi tiết về việc cấp giấy phép hoặc đáp ứng điều kiện. Bộ Công Thương cũng có thể quy định việc áp dụng Giấy phép xuất khẩu tự động hoặc Giấy phép nhập khẩu tự động đối với một số mặt hàng nhất định tùy theo mục tiêu điều hành từng thời kỳ.

Một số mặt hàng có quy định riêng biệt trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP. Ví dụ, việc tái xuất khẩu các vật tư nhập khẩu chủ yếu được Nhà nước đảm bảo cân đối ngoại tệ phải thu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc có giấy phép của Bộ Công Thương. Bộ Công Thương cũng có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc nhập khẩu gỗ từ các nước có chung đường biên giới. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa phục vụ quốc phòng, an ninh thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và được Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cấp phép. Việc nhập khẩu hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến quốc phòng, an ninh nhưng không phục vụ mục đích này (Phụ lục IV) cần có giấy phép của Bộ Công Thương sau khi có ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Cuối cùng, việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng tuân thủ quy định của Thủ tướng Chính phủ.

Hồ sơ và quy trình cấp phép ngoại thương

Thủ tục cấp giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định tại Nghị định 69/2018/NĐ-CP được thực hiện theo một quy trình cụ thể. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép bao gồm văn bản đề nghị của thương nhân, bản sao Giấy chứng nhận đầu tư hoặc đăng ký kinh doanh/doanh nghiệp, cùng các giấy tờ liên quan khác theo quy định.

Quy trình cấp phép bao gồm việc thương nhân gửi hồ sơ đến bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc cần bổ sung, cơ quan tiếp nhận sẽ thông báo trong thời hạn 3 ngày làm việc. Thời hạn tối đa để cơ quan cấp giấy phép trả lời thương nhân là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ. Nếu cần trao đổi ý kiến với các cơ quan liên quan, thời hạn xử lý hồ sơ sẽ tính từ thời điểm nhận được ý kiến trả lời. Việc sửa đổi, bổ sung hoặc cấp lại giấy phép do mất, thất lạc được thực hiện nhanh chóng hơn và chỉ yêu cầu các giấy tờ liên quan đến nội dung cần điều chỉnh. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định chi tiết về hồ sơ và công bố địa chỉ tiếp nhận hồ sơ.

Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) là một loại giấy tờ quan trọng trong hoạt động ngoại thương được quy định tại Nghị định 69/2018/NĐ-CP. Đối với hàng hóa nhập khẩu, Nghị định ban hành Danh mục hàng hóa và thẩm quyền quản lý CFS tại Phụ lục V. Các bộ, cơ quan ngang bộ sẽ công bố chi tiết danh mục hàng hóa nhập khẩu phải nộp CFS kèm mã HS. CFS phải có các thông tin tối thiểu như tên cơ quan cấp, số/ngày cấp, tên/loại hàng hóa, tên/địa chỉ nhà sản xuất, xác nhận hàng được sản xuất và bán tự do tại nước cấp, cùng chữ ký và dấu. CFS có thể áp dụng cho nhiều lô hàng theo quy định cụ thể của cơ quan quản lý. Trong một số trường hợp, CFS phải được hợp pháp hóa lãnh sự. Nếu có nghi ngờ về tính xác thực, cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu kiểm tra, xác minh.

Đối với CFS đối với hàng hóa xuất khẩu, cơ quan có thẩm quyền quản lý sẽ cấp CFS khi thương nhân xuất khẩu có yêu cầu và hàng hóa đáp ứng tiêu chuẩn công bố áp dụng. CFS cho hàng xuất khẩu thường bằng tiếng Anh và chứa các thông tin tối thiểu tương tự CFS nhập khẩu. Nếu nước nhập khẩu yêu cầu theo mẫu riêng, cơ quan cấp CFS sẽ dựa trên mẫu đó. Quy trình cấp CFS xuất khẩu bao gồm việc thương nhân nộp hồ sơ (văn bản đề nghị, đăng ký kinh doanh, danh mục cơ sở sản xuất, bản tiêu chuẩn áp dụng). Thời hạn cấp CFS không quá 3 ngày làm việc nếu hồ sơ đầy đủ. Cơ quan cấp CFS có thể kiểm tra tại nơi sản xuất nếu cần thiết. Số lượng CFS cấp theo yêu cầu của thương nhân. Việc bổ sung, sửa đổi hoặc cấp lại CFS mất 3 ngày làm việc. Bộ, cơ quan ngang bộ sẽ thu hồi CFS nếu thương nhân giả mạo chứng từ hoặc hàng hóa không phù hợp tiêu chuẩn công bố.

Chương III. TẠM NHẬP, TÁI XUẤT, TẠM XUẤT, TÁI NHẬP, CHUYỂN KHẨU HÀNG HÓA

Quy định chung về tạm nhập, tái xuất và chuyển khẩu

Nghị định 69/2018/NĐ-CP thiết lập các quy định cụ thể về tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhậpchuyển khẩu hàng hóa. Nghị định đưa ra Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu tại Phụ lục VI. Tuy nhiên, danh mục này không áp dụng với hình thức chuyển khẩu hàng hóa vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu mà không qua cửa khẩu Việt Nam. Để ngăn chặn các rủi ro như ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, gian lận thương mại, Bộ trưởng Bộ Công Thương có thể quyết định và công bố công khai danh mục hàng hóa tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu.

Về kinh doanh tạm nhập, tái xuất, thương nhân Việt Nam được phép thực hiện hoạt động này không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh, trừ các trường hợp có điều kiện hoặc yêu cầu giấy phép. Hàng hóa tạm nhập, tái xuất có điều kiện phải đáp ứng các điều kiện theo quy định chi tiết. Đối với hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hàng hóa chưa được phép lưu hành tại Việt Nam hoặc hàng hóa thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch, giấy phép (trừ giấy phép tự động), thương nhân phải được Bộ Công Thương cấp Giấy phép kinh doanh tạm nhập, tái xuất. Các trường hợp khác chỉ cần thực hiện thủ tục tại cơ quan hải quan. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chỉ được phép tạm nhập, tái xuất theo các hình thức khác quy định tại Điều 15. Hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của hải quan và không được chia nhỏ container trong quá trình vận chuyển, trừ khi có yêu cầu vận chuyển đặc biệt được hải quan cho phép. Thời gian lưu lại tại Việt Nam không quá 60 ngày, có thể gia hạn 2 lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Quá hạn, thương nhân phải tái xuất hoặc tiêu hủy; nếu nhập khẩu vào Việt Nam thì phải tuân thủ quy định quản lý nhập khẩu và thuế. Hoạt động này dựa trên hai hợp đồng riêng biệt (xuất khẩunhập khẩu) và việc thanh toán tuân thủ quy định về quản lý ngoại hối.

Điều tiết hàng hóa và các hình thức tạm nhập, tái xuất khác

Nghị định 69/2018/NĐ-CP cũng quy định cơ chế điều tiết hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất nhằm giải quyết tình trạng ách tắc tại cảng, cửa khẩu. Khi xảy ra ách tắc trên địa bàn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện giải tỏa và điều tiết trên địa bàn, đồng thời phối hợp với hải quan cửa khẩu tạm nhập để điều tiết lượng hàng tạm nhập đến cửa khẩu tái xuất. Nếu tình trạng ách tắc vẫn tiếp diễn hoặc khi cần thiết, Bộ Công Thương sẽ chủ trì phối hợp với UBND tỉnh, Tổng cục Hải quan, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng để điều tiết bằng các biện pháp như yêu cầu thương nhân tạm ngừng đưa hàng về Việt Nam hoặc tạm dừng cấp Giấy phép kinh doanh tạm nhập, tái xuất đối với hàng hóa yêu cầu giấy phép.

Ngoài kinh doanh tạm nhập, tái xuất, Nghị định cũng đề cập đến các hình thức tạm nhập, tái xuất khác. Trừ hàng hóa cấm hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu, thương nhân được tạm nhập hàng hóa để phục vụ mục đích như bảo hành, bảo dưỡng, thuê, mượn, hoặc sử dụng trong thời gian nhất định rồi tái xuất. Đối với hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam hoặc thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch, giấy phép (trừ tự động), cần có giấy phép của Bộ Công Thương (trên cơ sở chấp thuận của bộ quản lý chuyên ngành). Các trường hợp khác chỉ cần làm thủ tục hải quan. Hàng hóa này khi sử dụng tại Việt Nam phải tuân thủ quy định của bộ quản lý chuyên ngành. Thương nhân cũng được tạm nhập hàng hóa đã xuất khẩu để tái chế, bảo hành và tái xuất mà không cần giấy phép. Tạm nhập, tái xuất hàng hóa để trưng bày, giới thiệu tại hội chợ, triển lãm thương mại cũng được cho phép (trừ hàng cấm/tạm ngừng) chỉ với thủ tục hải quan. Các trường hợp tạm nhập, tái xuất phục vụ đo kiểm, khảo nghiệm, thay thế/sửa chữa tàu biển/máy bay, phương tiện chứa hàng theo phương thức quay vòng cũng chỉ cần thủ tục hải quan (trừ hàng cấm/tạm ngừng). Đặc biệt, việc tạm nhập, tái xuất máy móc, trang thiết bị y tế nhân đạo, dụng cụ biểu diễn/thi đấu cũng chỉ cần thủ tục hải quan, ngay cả khi thuộc diện cấm/tạm ngừng/giấy phép/điều kiện, chỉ cần bổ sung văn bản cho phép tiếp nhận đoàn/sự kiện và cam kết sử dụng đúng mục đích. Riêng vũ khí, khí tài quân sự/an ninh tạm nhập, tái xuất phục vụ mục đích quốc phòng/an ninh do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xem xét, cho phép.

Địa điểm thực hiện tạm nhập, tái xuất hàng hóa cũng được quy định cụ thể trong Nghị định 69/2018/NĐ-CP. Hàng hóa tạm nhập, tái xuất được thực hiện qua các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính. Việc tái xuất qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới chỉ được phép tại các địa điểm nằm trong khu kinh tế cửa khẩu hoặc các cửa khẩu phụ/lối mở ngoài khu kinh tế cửa khẩu đã có đủ cơ quan kiểm soát chuyên ngành và cơ sở kỹ thuật, được UBND tỉnh biên giới công bố sau khi thống nhất với các Bộ Quốc phòng, Tài chính, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. UBND tỉnh biên giới cũng ban hành Quy chế lựa chọn thương nhân được phép tái xuất hàng hóa tạm nhập, tái xuất có điều kiện và hàng hóa yêu cầu giấy phép qua các cửa khẩu phụ/lối mở này, căn cứ vào điều kiện hạ tầng và năng lực bốc xếp. Đối với hàng hóa không thuộc các đối tượng này, thương nhân được phép tái xuất qua các cửa khẩu phụ/lối mở đã được công bố đủ điều kiện chỉ bằng thủ tục hải quan. Hồ sơ và quy trình lựa chọn thương nhân được quy định chi tiết, bao gồm việc nộp hồ sơ đến Sở Công Thương, thời hạn xử lý, và công bố danh sách bởi UBND tỉnh biên giới. UBND tỉnh biên giới chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ hoạt động tái xuất trên địa bàn, đảm bảo không xảy ra buôn lậu, thẩm lậu, và có thể bị đình chỉ hoạt động tái xuất nếu xảy ra vi phạm nghiêm trọng. Hàng năm, UBND tỉnh rà soát, điều chỉnh danh sách thương nhân và báo cáo Bộ Công Thương. Việc tạm nhập, tái xuất qua các cửa khẩu, địa điểm khác thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Hàng hóa gửi kho ngoại quan để xuất khẩu, tái xuất qua các tỉnh biên giới phía Bắc cũng phải tuân thủ quy định về cửa khẩu tạm nhậpxuất khẩu tại Điều này.

Kinh doanh chuyển khẩu và thủ tục liên quan

Hoạt động kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa cũng được Nghị định 69/2018/NĐ-CP điều chỉnh. Thương nhân Việt Nam có quyền thực hiện kinh doanh chuyển khẩu. Tuy nhiên, đối với hàng hóa cấm hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu, hàng hóa chưa được phép lưu hành/sử dụng tại Việt Nam, hoặc hàng hóa thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch, giấy phép (trừ tự động), thương nhân phải được Bộ Công Thương cấp Giấy phép kinh doanh chuyển khẩu. Trường hợp chuyển khẩu hàng hóa vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu mà không qua cửa khẩu Việt Nam thì không cần giấy phép. Các trường hợp khác không yêu cầu giấy phép của Bộ Công Thương. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không được thực hiện kinh doanh chuyển khẩu. Hoạt động này dựa trên hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng và hợp đồng bán hàng ký với thương nhân nước ngoài, có thể ký trước hoặc sau nhau. Hàng hóa kinh doanh chuyển khẩu phải được đưa vào và đưa ra khỏi Việt Nam tại cùng một khu vực cửa khẩu và chịu sự kiểm tra, giám sát của hải quan trong suốt quá trình. Việc thanh toán tiền hàng tuân thủ quy định về quản lý ngoại hối và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Kinh doanh tạm nhập tái xuất có điều kiện

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện đối với một số nhóm hàng hóa đặc thù. Các danh mục này bao gồm hàng thực phẩm đông lạnh (Phụ lục VII), hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệt (Phụ lục VIII), và hàng hóa đã qua sử dụng (Phụ lục IX).

Các doanh nghiệp Việt Nam được thành lập theo Luật Doanh nghiệp có thể thực hiện hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện khi đáp ứng các điều kiện cụ thể và được Bộ Công Thương cấp Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa. Ngoài việc tuân thủ các quy định chung về tạm nhập, tái xuất, các doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này còn phải tuân thủ các quy định riêng. Đặc biệt, doanh nghiệp không được ủy thác hoặc nhận ủy thác hoạt động này, và không được chuyển đổi mục đích sử dụng từ kinh doanh tạm nhập, tái xuất sang tiêu thụ nội địa đối với hàng hóa có điều kiện. Đối với hàng hóa tạm nhập, tái xuất có điều kiện, vận đơn đường biển phải là vận đơn đích danh, không được chuyển nhượng và phải ghi rõ Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất của doanh nghiệp. Đối với hàng hóa đã qua sử dụng, vận đơn còn phải ghi số Giấy phép kinh doanh tạm nhập, tái xuất do Bộ Công Thương cấp.

Đối với kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng thực phẩm đông lạnh, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện về ký quỹ và cơ sở vật chất. Số tiền ký quỹ là 10 tỷ đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng nơi doanh nghiệp có kho, bãi. Kho, bãi phải có sức chứa tối thiểu 100 container lạnh 40 feet, diện tích tối thiểu 1.500 m2, có hàng rào cứng cao tối thiểu 2,5 m, đường di chuyển container, cổng ra vào, biển hiệu, và đủ nguồn điện (điện lưới và máy phát dự phòng) cùng thiết bị chuyên dùng vận hành container lạnh theo sức chứa. Kho, bãi phải thuộc sở hữu hoặc do doanh nghiệp thuê, và phải nằm trong khu vực quy hoạch kho, bãi phục vụ kinh doanh tạm nhập, tái xuất thực phẩm đông lạnh hoặc khu vực do UBND tỉnh biên giới quy định sau khi thống nhất với các Bộ Quốc phòng, Tài chính, Công Thương.

Điều kiện kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệthàng hóa đã qua sử dụng tương tự nhau về yêu cầu ký quỹ. Cả hai trường hợp này đều yêu cầu doanh nghiệp phải có số tiền ký quỹ là 7 tỷ đồng Việt Nam nộp tại tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp.

Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất và quản lý

Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất là yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện. Bộ Công Thương cấp Mã số này khi doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện về ký quỹ và kho bãi (đối với thực phẩm đông lạnh). Mã số này được cấp riêng cho từng nhóm hàng hóa, và doanh nghiệp chỉ được kinh doanh tạm nhập, tái xuất các mặt hàng thuộc nhóm hàng hóa đã được cấp Mã số. Doanh nghiệp không được cho thuê lại kho, bãi đã sử dụng để chứng minh điều kiện xin cấp Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất thực phẩm đông lạnh cho doanh nghiệp khác sử dụng vào mục đích tương tự. Đối với hàng hóa nước ngoài gửi vào kho ngoại quan để xuất khẩu, tái xuất qua các tỉnh biên giới phía Bắc, chỉ doanh nghiệpMã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất của nhóm hàng hóa đó mới được đứng tên trên tờ khai hải quan. Hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất các mặt hàng có điều kiện (Phụ lục VII, VIII, IX) mà doanh nghiệp không thực hiện tái xuất qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc không thuộc loại hình kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện và không cần Mã số. Tuy nhiên, Bộ Công Thương có thể báo cáo Thủ tướng Chính phủ để áp dụng quy định về cấp Mã số cho các trường hợp tạm nhập, tái xuất qua kho ngoại quan tại các cửa khẩu biên giới không thuộc phía Bắc nếu cần thiết cho công tác quản lý.

Quy trình cấp Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất yêu cầu doanh nghiệp nộp một bộ hồ sơ đến Bộ Công Thương, bao gồm văn bản đề nghị, bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/doanh nghiệp, văn bản xác nhận ký quỹ của tổ chức tín dụng, và (đối với thực phẩm đông lạnh) tài liệu chứng minh quyền sở hữu/thuê kho bãi và văn bản xác nhận nguồn điện lưới. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, Bộ Công Thương sẽ thông báo trong 3 ngày làm việc. Thời hạn cấp Mã số khác nhau tùy loại hàng hóa. Đối với thực phẩm đông lạnh, sau khi nhận hồ sơ đầy đủ, Bộ Công Thương có 7 ngày làm việc để kiểm tra hoặc ủy quyền Sở Công Thương kiểm tra kho bãi, và thêm 7 ngày làm việc nữa sau khi có kết quả kiểm tra để xem xét cấp Mã số. Đối với hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệt và hàng hóa đã qua sử dụng, thời hạn xem xét cấp Mã số là 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ. Việc bổ sung, sửa đổi hoặc cấp lại Mã số do mất, thất lạc mất 5 ngày làm việc. Nếu cần xác minh tài liệu, thời gian xử lý sẽ tính từ khi Bộ Công Thương nhận được ý kiến xác minh.

Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất có thể bị thu hồi theo yêu cầu của doanh nghiệp khi đã hoàn thành nghĩa vụ và tái xuất hết hàng hóa, hoặc bị Bộ Công Thương thu hồi khi doanh nghiệp vi phạm các quy định như gian lận kê khai điều kiện, không duy trì điều kiện, không bổ sung ký quỹ, không thực hiện điều tiết hàng hóa, kinh doanh tạm nhập, tái xuất không có giấy phép (nếu cần), kinh doanh hàng cấm hoặc tạm ngừng, từ chối trách nhiệm xử lý hàng, tự ý chuyển tiêu thụ nội địa, hoặc tự ý phá niêm phong hải quan. Doanh nghiệp bị thu hồi Mã số do các vi phạm nghiêm trọng (trừ từ chối trách nhiệm và kinh doanh hàng cấm) sẽ không được cấp lại trong vòng 2 năm. Doanh nghiệp vi phạm các hành vi rất nghiêm trọng như kinh doanh hàng cấm/tạm ngừng hoặc từ chối trách nhiệm xử lý hàng sẽ không được xem xét cấp lại Mã số. Bộ Công Thương cũng có thể đình chỉ tạm thời hiệu lực Mã số trong trường hợp doanh nghiệp bị điều tra vi phạm hoặc theo đề nghị của cơ quan chức năng. Thời gian đình chỉ có thể là 3 tháng, 6 tháng, hoặc 1 năm tùy trường hợp.

Việc quản lý và sử dụng số tiền ký quỹ của doanh nghiệp được quy định rõ. Tổ chức tín dụng quản lý tiền ký quỹ có trách nhiệm thông báo cho Bộ Công Thương khi có thay đổi hoặc khi tiền ký quỹ được sử dụng để thanh toán các chi phí do vi phạm. Nếu doanh nghiệp không thanh toán các chi phí phát sinh (xử lý ô nhiễm, tiêu hủy hàng tồn đọng/sai khai báo, các chi phí khác do vi phạm), UBND cấp tỉnh liên quan sẽ đề nghị tổ chức tín dụng trích tiền ký quỹ để thanh toán dựa trên quyết định xử lý vi phạm của cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan xử lý vi phạm và UBND tỉnh thông báo cho Bộ Công Thương để yêu cầu doanh nghiệp bổ sung tiền ký quỹ. Doanh nghiệp được hoàn trả toàn bộ hoặc phần còn lại của tiền ký quỹ trong các trường hợp không được cấp Mã số, Bộ Công Thương thu hồi Mã số theo đề nghị của doanh nghiệp, hoặc bị thu hồi Mã số do vi phạm. Việc hoàn trả dựa trên văn bản trả lời không cấp Mã số hoặc Quyết định thu hồi Mã số của Bộ Công Thương.

Cuối cùng, Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định các trách nhiệm cụ thể của doanh nghiệp được cấp Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất. Doanh nghiệp phải duy trì các điều kiện kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng Mã số. Họ phải nghiêm túc giải tỏa hàng hóa về kho bãi của mình theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền khi xảy ra ách tắc. Việc thu gom và xử lý chất thải, nước thải để bảo đảm vệ sinh môi trường tại kho bãi kinh doanh tạm nhập, tái xuất thực phẩm đông lạnh là bắt buộc. Doanh nghiệp phải thanh toán toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến xử lý môi trường, tiêu hủy hàng hóa không tái xuất được hoặc vi phạm, và các chi phí khác do vi phạm quy định về kinh doanh tạm nhập, tái xuất và gửi kho ngoại quan. Báo cáo định kỳ hàng quý về tình hình thực hiện tạm nhập, tái xuất các mặt hàng có điều kiện (Phụ lục VII, VIII, IX) theo mẫu quy định của Bộ Công Thương cũng là trách nhiệm của doanh nghiệp.

Chương IV. QUÁ CẢNH HÀNG HÓA

Quy định và thủ tục quá cảnh hàng hóa

Nghị định 69/2018/NĐ-CP đề cập chi tiết về hoạt động quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam. Đối với hàng hóa đặc biệt như vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ, Bộ Công Thương sẽ chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc cho phép quá cảnh. Đối với hàng hóa cấm hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu, cũng như hàng hóa cấm kinh doanh, Bộ Công Thương sẽ xem xét cấp Giấy phép quá cảnh hàng hóa. Tất cả các loại hàng hóa khác không thuộc các trường hợp trên chỉ cần thực hiện thủ tục quá cảnh tại cơ quan hải quan.

Hoạt động trung chuyển hàng hóa cũng được phân biệt rõ. Trường hợp hàng hóa thuộc diện cấm hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu được vận chuyển bằng đường biển vào khu vực trung chuyển tại cảng biển và sau đó đưa ra nước ngoài từ chính khu vực đó hoặc chuyển đến khu vực trung chuyển tại cảng biển khác để đưa ra nước ngoài, thủ tục trung chuyển sẽ thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và không cần giấy phép của Bộ Công Thương. Đối với các Hiệp định quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam ký giữa Việt Nam và các nước có chung đường biên giới, việc thực hiện sẽ theo hướng dẫn của Bộ Công Thương. Việc vận chuyển hàng hóa có độ nguy hiểm cao quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về vận chuyển hàng nguy hiểm và các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam là thành viên. Chủ hàng quá cảnh có nghĩa vụ nộp lệ phí hải quan và các loại phí khác áp dụng cho hàng hóa quá cảnh theo quy định hiện hành của Việt Nam.

Hồ sơ và quy trình cấp Giấy phép quá cảnh hàng hóa được quy định cụ thể tùy thuộc vào loại hàng hóa. Đối với hàng hóa là vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ, chủ hàng gửi hồ sơ (văn bản đề nghị, hợp đồng vận tải, công thư đề nghị của nước đề nghị quá cảnh) đến Bộ Công Thương. Sau khi kiểm tra hồ sơ, Bộ Công Thương lấy ý kiến Bộ Quốc phòng, Bộ Công an (trong 7 ngày làm việc). Bộ Quốc phòng/Bộ Công an trả lời trong 5 ngày làm việc. Bộ Công Thương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định trong 5 ngày làm việc sau khi nhận được ý kiến. Sau khi có ý kiến của Thủ tướng, Bộ Công Thương trả lời chủ hàng trong 5 ngày làm việc. Đối với hàng hóa cấm hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hoặc cấm kinh doanh, chủ hàng nộp hồ sơ (văn bản đề nghị quá cảnh, hợp đồng vận tải) đến Bộ Công Thương. Nếu hồ sơ đầy đủ, Bộ Công Thương cấp Giấy phép quá cảnh trong 7 ngày làm việc. Nếu từ chối, có văn bản nêu rõ lý do. Việc bổ sung, sửa đổi hoặc cấp lại giấy phép do mất, thất lạc mất 3 ngày làm việc.

Thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành nghề giao nhận, vận tải được phép làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa cho chủ hàng nước ngoài quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.

Chương V. GIA CÔNG HÀNG HÓA CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Nhận gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định về hoạt động nhận gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài. Thương nhân Việt Nam được nhận gia công các loại hàng hóa hợp pháp, trừ những mặt hàng cấm hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu. Đối với hàng hóa thuộc danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện, chỉ thương nhân đáp ứng đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh mặt hàng đó mới được nhận gia công xuất khẩu. Đối với các mặt hàng nhập khẩu theo hình thức chỉ định thương nhân thuộc thẩm quyền quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc gia công tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng gia công sau khi được Bộ Công Thương cấp giấy phép.

Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép gia công bao gồm văn bản đề nghị nêu rõ nội dung gia công, bản sao Giấy chứng nhận đầu tư hoặc đăng ký kinh doanh/doanh nghiệp, và bản sao Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh (nếu có). Quy trình cấp giấy phép yêu cầu thương nhân nộp hồ sơ đến Bộ Công Thương. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ, Bộ Công Thương thông báo trong 3 ngày làm việc. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, Bộ Công Thương có thể trao đổi ý kiến với bộ, cơ quan ngang bộ liên quan, và các cơ quan này sẽ trả lời trong 5 ngày làm việc. Sau khi nhận được ý kiến trả lời, Bộ Công Thương cấp giấy phép trong 5 ngày làm việc. Tuy nhiên, nếu thương nhân đã có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh mặt hàng nhận gia công, Bộ Công Thương sẽ xem xét cấp giấy phép trong 5 ngày làm việc mà không cần lấy ý kiến các cơ quan khác. Việc bổ sung, sửa đổi, hoặc cấp lại giấy phép do mất, thất lạc cũng mất 5 ngày làm việc.

Hợp đồng gia công phải được lập thành văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định hợp đồng phải tối thiểu bao gồm các điều khoản như tên, địa chỉ các bên (bao gồm bên gia công trực tiếp), tên và số lượng sản phẩm gia công, giá gia công, thời hạn và phương thức thanh toán, danh mục, số lượng, trị giá nguyên liệu/phụ liệu/vật tư (nhập khẩu và sản xuất trong nước), định mức sử dụng, định mức vật tư tiêu hao, tỷ lệ hao hụt, danh mục và trị giá máy móc/thiết bị cho thuê/mượn/tặng, biện pháp xử lý phế liệu/phế thải/phế phẩm và nguyên tắc xử lý máy móc/thiết bị/nguyên liệu dư thừa sau khi kết thúc hợp đồng, địa điểm và thời gian giao hàng, nhãn hiệu hàng hóa và tên gọi xuất xứ, và thời hạn hiệu lực của hợp đồng.

Quyền và nghĩa vụ trong gia công quốc tế

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định rõ về định mức sử dụng, định mức tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu, phụ liệu, vật tư trong hoạt động gia công. Các định mức và tỷ lệ này do các bên thỏa thuận trong hợp đồng gia công, dựa trên các định mức, tỷ lệ hao hụt phổ biến trong các ngành sản xuất, gia công liên quan của Việt Nam tại thời điểm ký hợp đồng. Người đại diện theo pháp luật của thương nhân nhận gia công chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu đúng mục đích gia công và tính chính xác của các định mức, tỷ lệ hao hụt đã kê khai.

Bên nhận gia công được phép thuê, mượn máy móc, thiết bị của bên đặt gia công để thực hiện hợp đồng, miễn là việc này được thỏa thuận trong hợp đồng gia công.

Quyền và nghĩa vụ của bên đặt gia côngbên nhận gia công được quy định chi tiết. Bên đặt gia công có nghĩa vụ giao nguyên liệu/vật tư theo thỏa thuận và nhận lại sản phẩm gia công, máy móc/thiết bị cho thuê/mượn, nguyên liệu/phụ liệu/vật tư/phế liệu sau khi thanh lý hợp đồng, trừ trường hợp được phép xuất khẩu tại chỗ, tiêu hủy, biếu tặng. Họ có quyền cử chuyên gia đến Việt Nam hướng dẫn kỹ thuật và kiểm tra chất lượng. Bên đặt gia công chịu trách nhiệm về quyền sử dụng nhãn hiệu, tên gọi xuất xứ và phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, các điều khoản hợp đồng. Họ được phép xuất khẩu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc/thiết bị, nguyên liệu dư thừa, phế phẩm/phế liệu theo thỏa thuận và quy định về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ thuế và tài chính.

Bên nhận gia công được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa tạm nhập theo định mức để gia công và sản phẩm gia công xuất khẩu. Họ được quyền thuê thương nhân khác gia công. Họ có thể cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu/phụ liệu/vật tư trong nước theo thỏa thuận, nhưng phải nộp thuế xuất khẩu đối với phần nguyên liệu/phụ liệu/vật tư mua trong nước. Bên nhận gia công được nhận tiền thanh toán bằng sản phẩm gia công, trừ sản phẩm cấm hoặc tạm ngừng nhập khẩu. Nếu sản phẩm thuộc diện giấy phép/điều kiện nhập khẩu, phải tuân thủ các quy định đó. Bên nhận gia công phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về gia công xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất hàng hóa trong nước và các điều khoản hợp đồng. Họ có trách nhiệm làm thủ tục xuất khẩu tại chỗ theo ủy nhiệm của bên đặt gia công. Điều kiện để xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc/thiết bị, nguyên liệu dư thừa, phế phẩm/phế liệu là phải tuân thủ quy định về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, thuế và có hợp đồng mua bán giữa thương nhân nước ngoài hoặc người được ủy quyền với thương nhân nhập khẩu.

Hoạt động gia công chuyển tiếp cũng được thương nhân thực hiện theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP. Điều này có nghĩa là sản phẩm gia công của một hợp đồng gia công này có thể được sử dụng làm nguyên liệu gia công cho một hợp đồng gia công khác tại Việt Nam. Ngoài ra, sản phẩm gia công của công đoạn trước cũng có thể được giao cho thương nhân khác theo chỉ định của bên đặt gia công để thực hiện công đoạn tiếp theo của hợp đồng gia công.

Về thông báo, thanh lý và quyết toán hợp đồng gia công, trước khi thực hiện hợp đồng, tổ chức, cá nhân phải thông báo hợp đồng gia công với cơ quan Hải quan. Khi kết thúc hoặc hết hiệu lực, các bên phải thanh lý hợp đồng và thực hiện báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư, sản phẩm xuất khẩu định kỳ với cơ quan Hải quan. Cơ sở để thanh lý là lượng nguyên liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu theo định mức sử dụng, tiêu hao và tỷ lệ hao hụt đã thỏa thuận. Cơ sở để thanh khoản là lượng nguyên liệu nhập khẩu, tái xuất, sản phẩm xuất khẩu theo định mức sử dụng, tiêu hao, tỷ lệ hao hụt phù hợp với thực tế thực hiện. Máy móc, thiết bị thuê/mượn, nguyên liệu dư thừa, phế phẩm, phế liệu, phế thải được xử lý theo thỏa thuận hợp đồng nhưng phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Việc tiêu hủy chỉ được thực hiện sau khi có văn bản cho phép của Sở Tài nguyên – Môi trường và dưới sự giám sát của Hải quan; nếu không được hủy tại Việt Nam thì phải tái xuất. Việc tặng máy móc, thiết bị, nguyên liệu, phế liệu/phế phẩm phải có văn bản tặng/biếu, và bên được tặng phải làm thủ tục nhập khẩu, nộp thuế (nếu có), và đăng ký tài sản. Phế liệu/phế phẩm trong định mức hao hụt nếu thuộc danh mục được phép nhập khẩu thì không phải làm thủ tục hải quan, được miễn thuế nhập khẩu, nhưng phải nộp thuế GTGT, TNDN.

Thủ tục hải quan và nghĩa vụ tài chính đối với hàng gia công xuất khẩu được hướng dẫn bởi Bộ Tài chính.

Nghị định 69/2018/NĐ-CP cũng đề cập đến các hình thức gia công khác, sửa chữa, tái chế máy móc, thiết bị. Thủ tướng Chính phủ sẽ xem xét, quyết định việc gia công hàng hóa cấm hoặc tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu cho thương nhân nước ngoài để tiêu thụ ở nước ngoài trong những trường hợp đặc biệt.

Hoạt động gia công quân phục có những quy định riêng biệt theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP. Quân phục ở đây là đồng phục của quân nhân lực lượng vũ trang nước ngoài, sản xuất theo kiểu mẫu, quy cách thống nhất (Phụ lục X). Sản phẩm dệt may cùng danh mục nhưng không phải quân phục thì không áp dụng điều này. Quân phục sản xuất, gia công xuất khẩu không được tiêu thụ tại Việt Nam. Nguyên liệu, phụ liệu dùng gia công chịu sự giám sát của hải quan từ khi nhập khẩu đến khi sản phẩm xuất khẩu. Hồ sơ cấp Giấy phép sản xuất, gia công quân phục bao gồm văn bản đề nghị, bản sao đăng ký kinh doanh/doanh nghiệp/đầu tư, đơn đặt hàng hoặc văn bản đề nghị giao kết hợp đồng kèm ảnh/mẫu sản phẩm, và các tài liệu chứng minh mục đích sử dụng cuối cùng của sản phẩm (hợp đồng mua sắm, văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nước đặt hàng hoặc cơ quan đại diện ngoại giao), phải được hợp pháp hóa lãnh sự (trừ thị trường Hoa Kỳ cần thêm bản sao mã MID). Quy trình cấp giấy phép bao gồm nộp hồ sơ đến Bộ Công Thương, thông báo hoàn thiện hồ sơ (trong 3 ngày), lấy ý kiến Bộ Quốc phòng/Bộ Công an (7 ngày), Bộ Quốc phòng/Bộ Công an trả lời (5 ngày), Bộ Công Thương cấp phép (5 ngày). Bổ sung, sửa đổi, cấp lại giấy phép mất 5 ngày. Bộ Công Thương thu hồi giấy phép nếu thương nhân khai báo không trung thực hoặc thực hiện không đúng giấy phép. Trách nhiệm của thương nhân gia công quân phục bao gồm xuất khẩu toàn bộ sản phẩm, không sử dụng hoặc tiêu thụ tại Việt Nam, tái xuất hoặc tiêu hủy hàng mẫu, nguyên liệu dư thừa, phế liệu/phế phẩm dưới sự giám sát của các bộ liên quan, hợp tác làm việc và cung cấp hồ sơ khi kiểm tra, chịu trách nhiệm về tính chính xác của khai báo. Hoạt động này còn phải tuân thủ các quy định chung về gia công tại Chương V. Về nhập khẩu mẫu quân phục, thương nhân đã có giấy phép gia công được nhập khẩu mẫu để sản xuất. Thương nhân chưa có giấy phép có thể nhập khẩu mẫu để nghiên cứu (tối đa 5 mẫu/mã sản phẩm) bằng cách nộp đơn đăng ký đến Bộ Công Thương, sau đó Bộ Công Thương lấy ý kiến Bộ Quốc phòng/Bộ Công an trước khi có văn bản trả lời cho phép nhập khẩu (quy trình tương tự cấp giấy phép gia công quân phục).

Đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài

Nghị định 69/2018/NĐ-CP cũng điều chỉnh hoạt động đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài. Hợp đồng đặt gia công ở nước ngoài và thủ tục hải quan đối với xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa đặt gia công tuân thủ các quy định tương tự như đối với nhận gia công, được quy định tại Điều 39 về hợp đồng gia công và Điều 45 về thủ tục hải quan.

Quyền và nghĩa vụ của thương nhân đặt gia công hàng hóa ở nước ngoài được nêu rõ. Thương nhân phải tuân thủ quy định về quản lý hoạt động gia công hàng hóa ở nước ngoài tại Luật Quản lý ngoại thương. Họ chịu trách nhiệm về quyền sử dụng nhãn hiệu và tên gọi xuất xứ của hàng hóa. Thương nhân được phép tạm xuất khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư hoặc chuyển khẩu các mặt hàng này từ nước thứ ba cho bên nhận gia công để thực hiện hợp đồng. Họ có quyền tái nhập khẩu sản phẩm đã gia công. Khi kết thúc hợp đồng, họ cũng được tái nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa. Thương nhân được bán sản phẩm gia công và các mặt hàng đã xuất khẩu để thực hiện hợp đồng gia công tại thị trường nước nhận gia công hoặc thị trường khác, nhưng phải nộp thuế theo quy định hiện hành. Họ được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu để gia công và sản phẩm gia công nhập khẩu theo hợp đồng gia công. Thương nhân có quyền cử chuyên gia, công nhân kỹ thuật ra nước ngoài để kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm gia công. Cuối cùng, họ phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với sản phẩm gia công nhập khẩu phục vụ tiêu dùng trong nước theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Chương VI. ĐẠI LÝ MUA, BÁN HÀNG HÓA VỚI NƯỚC NGOÀI

Đại lý mua, bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định về hoạt động đại lý mua, bán hàng hóa với nước ngoài. Thương nhân Việt Nam được phép làm đại lý mua, bán các loại hàng hóa cho thương nhân nước ngoài, trừ những mặt hàng nằm trong Danh mục cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu hoặc cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lý sau khi được bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền quản lý cấp giấy phép. Nếu pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉ được giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định, thương nhân phải tuân thủ quy định đó. Thương nhân làm đại lý mua hàng phải yêu cầu thương nhân nước ngoài chuyển tiền bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi qua ngân hàng để mua hàng theo hợp đồng đại lý. Thương nhân làm đại lý có trách nhiệm đăng ký, kê khai, nộp các loại thuế và các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến hàng hóa thuộc hợp đồng đại lý và hoạt động kinh doanh của mình theo quy định pháp luật.

Hàng hóa thuộc hợp đồng đại lý mua, bán hàng hóa cho thương nhân nước ngoài phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định pháp luật Việt Nam. Thương nhân Việt Nam làm đại lý chịu trách nhiệm đăng ký, kê khai, nộp các loại thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan. Hàng hóa thuộc hợp đồng đại lý khi xuất khẩu, nhập khẩu phải làm thủ tục theo đúng quy định như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thông thường theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP. Hàng hóa thuộc hợp đồng đại lý bán hàng tại Việt Nam cho thương nhân nước ngoài được phép tái xuất khẩu nếu không tiêu thụ được tại Việt Nam. Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính.

Thuê thương nhân nước ngoài làm đại lý bán hàng tại nước ngoài

Thương nhân Việt Nam được phép thuê thương nhân nước ngoài làm đại lý bán hàng tại nước ngoài. Họ có thể thuê đại lý bán các loại hàng hóa, trừ những mặt hàng thuộc Danh mục cấm xuất khẩu hoặc tạm ngừng xuất khẩu. Thương nhân thuê đại lý phải ký hợp đồng đại lý với thương nhân nước ngoài và có trách nhiệm chuyển các khoản tiền thu được từ hợp đồng bán hàng về nước theo quy định về quản lý ngoại hối và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trường hợp nhận tiền bán hàng bằng hàng hóa, thương nhân phải tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật về nhập khẩu hàng hóa.

Hàng hóa thuộc hợp đồng đại lý bán hàng tại nước ngoài phải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định pháp luật Việt Nam. Thương nhân có trách nhiệm đăng ký, kê khai, nộp các loại thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác liên quan đến hoạt động thuê thương nhân nước ngoài làm đại lý bán hàng tại nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng đại lý bán hàng tại nước ngoài có thể được nhập khẩu trở lại Việt Nam nếu không tiêu thụ được. Hàng hóa nhập khẩu trở lại này không phải chịu thuế nhập khẩu và được hoàn thuế xuất khẩu (nếu có) theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Thủ tục đối với hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng đại lý khi xuất khẩunhập khẩu trở lại tuân thủ quy định đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Nghị định 69/2018/NĐ-CP.

Chương VII. CƠ CHẾ PHỐI HỢP TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NGOẠI THƯƠNG

Quy định chung và nguyên tắc phối hợp

Nghị định 69/2018/NĐ-CP thiết lập một cơ chế phối hợp chặt chẽ để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương. Các nguyên tắc phối hợp bao gồm sự chủ động, đồng bộ, chính xác, kịp thời và hiệu quả giữa Cơ quan chủ trì và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam. Việc phối hợp phải tuân thủ các quy định về giải quyết tranh chấp tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cơ quan chủ trì và các bên liên quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về hậu quả nếu không phối hợp hoặc phối hợp không hiệu quả. Đồng thời, tất cả các bên có nghĩa vụ bảo vệ bí mật Nhà nước và giữ bí mật thông tin liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp theo quy định của điều ước quốc tế liên quan.

Nội dung phối hợp trong giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương rất đa dạng. Nó bao gồm việc giải quyết khiếu kiện, thương lượng, hòa giải, và tham vấn đối với các bất đồng giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài liên quan đến tính phù hợp của các biện pháp quản lý ngoại thương với điều ước quốc tế. Các bên phối hợp trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giải quyết tranh chấp. Việc cung cấp thông tin, hồ sơ, chứng cứ và tài liệu liên quan phục vụ giải quyết tranh chấp là bắt buộc. Các cơ quan, tổ chức được yêu cầu phải cử người có đủ năng lực tham gia giải quyết tranh chấp. Các công việc liên quan đến giải quyết tranh chấp trong giai đoạn tố tụng tại cơ quan trọng tài hoặc cơ quan tài phán quốc tế có thẩm quyền cũng là nội dung phối hợp. Cuối cùng, các bên phối hợp thực hiện và xử lý các nội dung liên quan đến thi hành phán quyết, quyết định, và rà soát việc tuân thủ của cơ quan trọng tài hoặc cơ quan tài phán quốc tế.

Vai trò của các cơ quan trong giải quyết tranh chấp

Nghị định 69/2018/NĐ-CP xác định rõ vai trò của các cơ quan trong quá trình giải quyết tranh chấp ngoại thương. Cơ quan chủ trì vụ việc tranh chấp thường là cơ quan nhà nước được Chính phủ giao quản lý, theo dõi các biện pháp quản lý ngoại thương đang là đối tượng tranh chấp, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác. Nếu có từ hai cơ quan quản lý, họ phải thống nhất để một trong số đó là Cơ quan chủ trì và báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trong trường hợp Chính phủ Việt Nam bị kiện và không thống nhất được Cơ quan chủ trì trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được yêu cầu tham vấn, các cơ quan này phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho Bộ Công Thương. Khi cần thiết, Thủ tướng Chính phủ có thể quyết định phân công hoặc thay đổi Cơ quan chủ trì theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Cơ quan chủ trì có nhiều nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng. Họ tiếp nhận, xử lý thông tin, tài liệu tranh chấp, làm đầu mối liên lạc với Chính phủ nước ngoài và cơ quan trọng tài/tài phán quốc tế. Cơ quan chủ trì dẫn dắt, phối hợp với Cơ quan đầu mối và các bên liên quan trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp tại cơ quan trọng tài/tài phán quốc tế. Họ phối hợp xây dựng kế hoạch giải quyết tranh chấp, chỉ định trọng tài viên, lựa chọn, thuê và giám sát luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp. Cơ quan chủ trì cũng phối hợp xử lý các vấn đề khác như thuê chuyên gia kỹ thuật, mời nhân chứng và tham gia phiên xét xử. Cuối cùng, họ có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Cơ quan đầu mối và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến tranh chấp.

Bộ Công Thương được xác định là Cơ quan đầu mối giúp Chính phủ trong việc tham gia giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương. Cơ quan đầu mối này có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo thống nhất công tác giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam. Bộ Công Thương phối hợp với các bên liên quan và luật sư để tư vấn pháp lý cho Cơ quan chủ trì khi được yêu cầu. Bộ Công Thương phối hợp với Cơ quan chủ trì trong việc thuê luật sư và chỉ định trọng tài viên. Họ chủ trì, phối hợp xây dựng kế hoạch giải quyết tranh chấp. Bộ Công Thương có thể thay mặt Chính phủ Việt Nam tham gia phiên xét xử khi cần thiết hoặc theo đề nghị của Cơ quan chủ trì. Họ cũng cử đại diện tham gia phiên xét xử và phối hợp với Cơ quan chủ trì, các bên liên quan để thi hành phán quyết, quyết định. Việc xây dựng, cập nhật danh sách chuyên gia có thể làm trọng tài viên và tổ chức hành nghề luật sư có thể làm luật sư cho Chính phủ Việt Nam trong giải quyết tranh chấp cũng là nhiệm vụ của Cơ quan đầu mối.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan là những đối tượng có liên quan tới việc giải quyết tranh chấp và được Cơ quan chủ trì mời hoặc yêu cầu tham gia. Họ có nhiệm vụ và quyền hạn phối hợp với Cơ quan chủ trì và Cơ quan đầu mối giải quyết tranh chấp theo yêu cầu, phù hợp với khả năng chuyên môn hoặc lĩnh vực quản lý. Các bên liên quan có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, hồ sơ, chứng cứ, tài liệu và giải trình các nội dung liên quan khi được yêu cầu. Đồng thời, họ có quyền yêu cầu Cơ quan chủ trì cung cấp hoặc bổ sung thông tin về vụ việc tranh chấp để thực hiện nhiệm vụ của mình.

Quy trình giải quyết tranh chấp khi Chính phủ nước ngoài khởi kiện

Khi Chính phủ nước ngoài khởi kiện tranh chấp liên quan đến biện pháp quản lý ngoại thương, Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định quy trình xử lý thông tin và giải quyết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp quản lý nhà nước về ngoại thương có trách nhiệm tiếp nhận thông tin về khả năng khởi kiện hoặc thông báo chính thức về việc khởi kiện và ngay lập tức báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp, đồng thời thông báo cho Cơ quan đầu mối. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không trực tiếp áp dụng biện pháp này nhưng nhận được thông tin tương tự cũng phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao tài liệu đã nhận trong thời hạn 3 ngày làm việc đến cơ quan áp dụng biện pháp liên quan hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp và Cơ quan đầu mối nếu không xác định được cơ quan áp dụng biện pháp. Trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được thông báo, Cơ quan đầu mối gửi văn bản kèm hồ sơ đến Cơ quan chủ trì đã được xác định hoặc Văn phòng Chính phủ để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định phân công Cơ quan chủ trì. Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng trong 5 ngày làm việc và thông báo quyết định phân công trong 3 ngày làm việc sau đó.

Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giải quyết vụ việc tranh chấp là một bước quan trọng. Cơ quan đầu mối chủ trì, phối hợp với Cơ quan chủ trì, các bên liên quan và luật sư (nếu có) xây dựng Kế hoạch giải quyết tranh chấp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong vòng 35 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận thông tin về khả năng khởi kiện. Kế hoạch này bao gồm tóm tắt vụ việc, quy trình tố tụng, các công việc cần triển khai, mốc thời gian dự kiến, nhiệm vụ cụ thể của từng bên, phân tích điểm mạnh/yếu, đề xuất các phương án xử lý (bao gồm thương lượng, hòa giải), các vấn đề cần báo cáo Thủ tướng, và dự kiến chi phí/nguồn kinh phí. Cơ quan đầu mối phối hợp với các bên thực hiện kế hoạch và điều chỉnh nếu cần thiết. Kế hoạch và các sửa đổi được gửi đến Thủ tướng Chính phủ và Cơ quan chủ trì. Cơ quan chủ trì thường xuyên (hàng tháng hoặc hàng quý) thông báo tiến độ thực hiện kế hoạch cho Cơ quan đầu mối. Kế hoạch giải quyết vụ việc tranh chấp được bảo quản theo chế độ mật.

Việc tiếp nhận và giải quyết yêu cầu tham vấn được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế về giải quyết tranh chấp. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện biện pháp quản lý nhà nước về ngoại thương có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết yêu cầu tham vấn đối với việc áp dụng biện pháp đó trên cơ sở đề xuất của Chính phủ nước ngoài. Nếu nhận được yêu cầu nhưng không có thẩm quyền giải quyết, họ phải hướng dẫn Chính phủ nước ngoài gửi yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền và thông báo việc này.

Trong quá trình tham vấn với Chính phủ nước ngoài, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân thực hiện biện pháp quản lý phải ngay lập tức báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp và Cơ quan đầu mối nếu xét thấy biện pháp được tham vấn có dấu hiệu vi phạm cam kết quốc tế, không thể giải quyết dứt điểm yêu cầu tham vấn, hoặc có khả năng phát sinh vụ việc tranh chấp. Họ phải thường xuyên thông báo tình hình và kết quả tham vấn cho Cơ quan đầu mối và các cơ quan có thẩm quyền để phối hợp. Nếu phù hợp, họ tiến hành thương lượng, hòa giải theo phương án đã được cấp trên phê duyệt sau khi có ý kiến của Cơ quan đầu mối. Việc xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đã ban hành, áp dụng biện pháp trái cam kết quốc tế dẫn đến tranh chấp được thực hiện theo quy định pháp luật Việt Nam.

Quy trình giải quyết tranh chấp khi Chính phủ Việt Nam khởi kiện

Khi Chính phủ Việt Nam khởi kiện tranh chấp liên quan đến biện pháp quản lý ngoại thương của nước ngoài, Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định quy trình đề xuất và tham gia giải quyết yêu cầu tham vấn. Việc này được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế về giải quyết tranh chấp. Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện biện pháp quản lý nhà nước về ngoại thương có trách nhiệm đề xuất, tham gia giải quyết yêu cầu tham vấn khi phát hiện hoặc trên cơ sở đề nghị của thương nhân, hiệp hội ngành, nghề về việc các biện pháp quản lý ngoại thương của Chính phủ nước ngoài có nghi ngờ ảnh hưởng, vi phạm các quyền, lợi ích của Việt Nam theo điều ước quốc tế.

Trong quá trình tham vấn với Chính phủ nước ngoài, cơ quan thực hiện biện pháp quản lý phải ngay lập tức báo cáo cơ quan cấp trên trực tiếp và Cơ quan đầu mối nếu xét thấy biện pháp của nước ngoài có dấu hiệu vi phạm cam kết đối với Việt Nam, không thể giải quyết dứt điểm yêu cầu tham vấn của Chính phủ Việt Nam, hoặc có khả năng phát sinh vụ việc tranh chấp. Trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được thông báo, Cơ quan đầu mối gửi văn bản kèm hồ sơ đến Cơ quan chủ trì đã được xác định hoặc Văn phòng Chính phủ để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định phân công Cơ quan chủ trì. Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng trong 5 ngày làm việc và thông báo quyết định phân công trong 3 ngày làm việc sau đó. Cơ quan thực hiện biện pháp quản lý phải thường xuyên thông báo tình hình và kết quả tham vấn cho Cơ quan đầu mối và các cơ quan có thẩm quyền để phối hợp. Nếu phù hợp, họ tiến hành thương lượng, hòa giải với Chính phủ nước ngoài theo phương án đã được cấp trên phê duyệt sau khi có ý kiến của Cơ quan đầu mối.

Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giải quyết vụ việc tranh chấp khi Chính phủ Việt Nam khởi kiện được tiến hành sau khi kết thúc quá trình tham vấn. Cơ quan đầu mối chủ trì, phối hợp với Cơ quan chủ trì, các bên liên quan và luật sư (nếu có) xây dựng Kế hoạch giải quyết tranh chấp trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc quá trình tham vấn. Việc xây dựng, điều chỉnh, thực hiện Kế hoạch giải quyết vụ việc tranh chấp tuân thủ các quy định tương tự như khi Chính phủ nước ngoài khởi kiện (theo Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 63). Kế hoạch giải quyết vụ việc tranh chấp này cũng được bảo quản theo chế độ mật.

Chương VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Nghị định 69/2018/NĐ-CP cũng quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan và thương nhân trong việc tổ chức thực hiện và tuân thủ Nghị định. Các bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị định. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để kiểm tra việc thực hiện Nghị định, phát hiện và thông báo để các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan điều chỉnh những quy định trái với Nghị định (nếu có). Bộ Tài chính chỉ đạo ngành Hải quan có kế hoạch cung cấp số liệu định kỳ và đột xuất về các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, các loại hình kinh doanh, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu theo danh mục mặt hàng, thị trường cho Bộ Công Thương và các bộ, cơ quan ngang bộ liên quan để phục vụ công tác quản lý, điều hành.

Thương nhân hoạt động ngoại thương chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các thông tin, tài liệu, hồ sơ nộp, xuất trình cho cơ quan có thẩm quyền. Họ có nghĩa vụ tuân thủ đầy đủ các quy định và thực hiện trách nhiệm theo Luật Quản lý ngoại thương, Luật Thương mại, Nghị định 69/2018/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan khác. Thương nhân cũng có trách nhiệm hợp tác làm việc và cung cấp các hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan cấp phép và các cơ quan liên quan khi các cơ quan này tiến hành kiểm tra việc thực thi quy định pháp luật về hoạt động ngoại thương.

Nghị định 69/2018/NĐ-CP có các điều khoản chuyển tiếp để đảm bảo sự liên tục và không gây gián đoạn cho hoạt động ngoại thương. Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định việc xuất khẩu, nhập khẩu một số mặt hàng cấm ban hành trước khi Nghị định có hiệu lực vẫn được tiếp tục thực hiện. Các giấy phép do các bộ, cơ quan ngang bộ cấp cho thương nhân theo quy định của Nghị định số 187/2013/NĐ-CP (Nghị định cũ) và các văn bản hướng dẫn liên quan trước khi Nghị định 69 có hiệu lực vẫn tiếp tục được thực hiện theo nội dung và thời hạn hiệu lực của các giấy phép đó. Các Quyết định của UBND tỉnh biên giới công bố cửa khẩu phụ, lối mở biên giới đủ điều kiện tái xuất và lựa chọn thương nhân được thực hiện tái xuất hàng hóa ban hành trước khi Nghị định 69 có hiệu lực vẫn tiếp tục được thực hiện. Các Giấy chứng nhận mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất do Bộ Công Thương cấp cho các doanh nghiệp trước khi Nghị định 69 có hiệu lực vẫn tiếp tục được thực hiện theo thời hạn hiệu lực của các giấy chứng nhận đó. Tuy nhiên, một số quy định từ Nghị định 187/2013/NĐ-CP về nhập khẩu hàng hóa cấm để nghiên cứu khoa học, gia công, tái chế, sửa chữa và quy định hiện hành của Bộ Khoa học và Công nghệ về nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng sẽ chỉ được tiếp tục thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2018. Các văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ hướng dẫn thi hành Nghị định 187/2013/NĐ-CP cũng được tiếp tục thực hiện đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2018.

Nghị định 69/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Đồng thời, Nghị định này chính thức bãi bỏ Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý, gia công, quá cảnh. Nghị định cũng bãi bỏ các Điều 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Nghị định số 77/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, và Quyết định số 10/2010/QĐ-TTg quy định Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩunhập khẩu. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm hướng dẫn và thi hành Nghị định 69/2018/NĐ-CP.

Nắm vững Nghị định 69/2018/NĐ-CP là yếu tố then chốt để các doanh nghiệp tham gia hoạt động ngoại thương tại Việt Nam tuân thủ pháp luật và tối ưu hóa quy trình. Từ quy định về xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất đến giải quyết tranh chấp, Nghị định này cung cấp khung pháp lý chi tiết, hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và minh bạch. Edupace hy vọng những chia sẻ này giúp quý vị hiểu rõ hơn về Nghị định 69/2018/NĐ-CP.

Các câu hỏi thường gặp về Nghị định 69/2018/NĐ-CP

Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định về vấn đề gì?
Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thươngLuật Thương mại, bao gồm các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế như xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh, các hoạt động liên quan như gia công, đại lý mua bán và cơ chế giải quyết tranh chấp về áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương.

Những hoạt động ngoại thương nào cần giấy phép theo Nghị định này?
Theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP, các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu một số mặt hàng cụ thể (như hàng hóa cấm, tạm ngừng, theo điều kiện, theo hạn ngạch, hoặc yêu cầu giấy phép) cần phải có giấy phép của bộ, cơ quan ngang bộ hoặc Bộ Công Thương. Kinh doanh tạm nhập, tái xuấtkinh doanh chuyển khẩu đối với hàng hóa cấm, tạm ngừng, chưa được phép lưu hành tại Việt Nam, hoặc thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch/giấy phép cũng cần giấy phép của Bộ Công Thương. Quá cảnh hàng hóa đặc thù như vũ khí hoặc hàng cấm/tạm ngừng/cấm kinh doanh cũng yêu cầu giấy phép.

Kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa có điều kiện theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP có yêu cầu gì đặc biệt?
Hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất có điều kiện đối với hàng thực phẩm đông lạnh, hàng hóa có thuế tiêu thụ đặc biệt, và hàng hóa đã qua sử dụng yêu cầu doanh nghiệp phải có Mã số kinh doanh tạm nhập, tái xuất do Bộ Công Thương cấp. Để được cấp Mã số, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện cụ thể về ký quỹ (10 tỷ VNĐ cho thực phẩm đông lạnh, 7 tỷ VNĐ cho hàng có thuế TTĐB và hàng đã qua sử dụng) và điều kiện về kho bãi (đối với thực phẩm đông lạnh). Doanh nghiệp cũng không được ủy thác hoặc nhận ủy thác hoạt động này và không được chuyển loại hình sang tiêu thụ nội địa.

Vai trò của Cơ quan chủ trì và Cơ quan đầu mối trong giải quyết tranh chấp ngoại thương là gì?
Theo Nghị định 69/2018/NĐ-CP, Cơ quan chủ trì là cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý biện pháp quản lý ngoại thương đang tranh chấp, chịu trách nhiệm chính trong việc tiếp nhận thông tin, liên lạc, dẫn dắt quá trình giải quyết tranh chấp, xây dựng kế hoạch và thực hiện các công việc liên quan tại cơ quan tài phán quốc tế. Bộ Công Thương là Cơ quan đầu mối giúp Chính phủ, có vai trò chỉ đạo thống nhất, phối hợp với Cơ quan chủ trì và các bên liên quan, tư vấn pháp lý, tham gia xây dựng kế hoạch và thực hiện các quyết định, phán quyết tranh chấp.

Các văn bản pháp luật nào bị bãi bỏ khi Nghị định 69/2018/NĐ-CP có hiệu lực?
Khi Nghị định 69/2018/NĐ-CP có hiệu lực (từ ngày ký ban hành), nó bãi bỏ Nghị định số 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, đại lý, gia công, quá cảnh. Đồng thời, Nghị định cũng bãi bỏ các Điều 2, 3, 4, 5, 6, 7 của Nghị định số 77/2016/NĐ-CP và Quyết định số 10/2010/QĐ-TTg về Giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS) đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩunhập khẩu.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *